TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
TIN TỨC
SƠ ĐỒ DÒNG HỌ
BLOG
TÀI LIỆU
LIÊN HỆ
LỊCH SỬ & PHÁT TRIỂN
Khởi nguồn
Danh sách các chi họ
Các Chi tự giới thiệu
CÁC TỔ CHỨC HỌ DOÃN
Ban liên lạc toàn quốc
Ban liên lạc các chi, liên chi
Quỹ khuyến học
CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH
Kỷ niêm 100 năm hợp biên GP
Hội thảo Doãn Uẩn 30/6/11
Hướng dẫn hoạt động
Tư liệu hoạt động dòng họ
CÁC DI SẢN HỌ DOÃN
Nhà thờ, Hoành phi, Câu đối
Địa danh họ Doãn
Những tấm gương
Văn học nghệ thuật
Ảnh, video và Khác
HỌ DOÃN TRONG LỊCH SỬ
Danh nhân họ Doãn thời xưa
Lễ kỷ niệm Doãn Uẩn
Hội thảo Doãn Khuê
Nhân vật họ Doãn thời nay
ẤN PHẨM HỌ DOÃN
Hợp phả họ Doãn 1992
Kỷ yếu hội thảo TTQ Doãn Nỗ 1993
Biên soạn Hợp phả 2011
Kỷ yếu HỌ DOÃN VN 4/2011
Kỷ yếu KHÁNH THÀNH LĂNG MỘ TỔ & GIỖ TỔ 4/2012
Danh mục ấn phẩm người họ Doãn
THÔNG TIN KHÁC VỀ HỌ DOÃN
Những hoàn cảnh khó khăn
Tấm lòng người họ DOÃN
LIÊN KẾT WEBSITE
QUẢNG CÁO
THỐNG KÊ WEBSITE
Đang truy cập:
Yahoo Chat
Skype Chat

 

 

 

CHÀO MỪNG BÀ CON TRONG DÒNG HỌ VÀ QUÝ KHÁCH ĐẾN THĂM WEBSITE HỌ DOÃN VIỆT NAM
Hội thảo Doãn Uẩn 30/6/11
DOÃN UẨN, NGƯỜI KẾ THỪA VÀ VUN ĐẮP TRUYỀN THỐNG DÒNG HỌ DOÃN

TS.KTS Doãn Quốc Khoa - Phó trưởng Ban Liên lạc họ Doãn

Một dân tộc được tạo thành bởi các Dòng họ và truyền thống của dân tộc chính là tổng hòa những truyền thống của các dòng họ. Truyền thống của một dòng họ được tạo nên, thanh lọc và bồi đắp bởi tất cả các thành viên dòng họ, tuy nhiên  vai trò của những một số cá nhân rất quan trọng. Đó là những người con xuất sắc của dòng họ và cũng là của đất nước bởi ở họ thường không chỉ tài giỏi, đức độ mà còn   là người có tâm với đất nước, với dòng họ. 

 Thời kỳ nửa đầu thế kỷ XIX, Doãn Uẩn là một danh nhân có công lớn với đất nước, điều này đã được ghi nhận trong sử sách và một số bài viết trên các tạp chí, báo, tham luận tại một số hội thảo khoa học. Là con cháu họ Doãn, Tôi  xin được đề cập về mối liên hệ giữa Doãn Uẩn với họ Doãn. Mối liên hệ này có ở cả hai chiều:

-          Truyền thống của dòng họ và sự giáo dục của gia đình góp phần tạo nên tính cách và tài năng của Doãn Uẩn 

-          Những đóng góp của Doãn Uẩn bồi đắp thêm truyền thống tốt đẹp cho dòng họ Doãn .

Về  nội dung thứ nhất: truyền thống dòng họ và sự giáo dục của gia đình góp phần tạo nên tính cách và tài năng của Doãn Uẩn  

      Trong việc hình thành, phát triển mỗi cá nhân, ngoài vai trò trực tiếp của gia đình, của xã hội và nỗ lực bản thân, không thể không kể đến vai trò của truyền thống dòng họ được kết tinh từ nhiều đời và âm thầm đồng hành, tiếp nối vào mỗi cá nhân trong cuộc sống hiện thực. Là một người họ Doãn, trong dòng máu của mình, Doãn Uẩn được mang  những  gen di truyền từ những nhân vật tài giỏi trong họ Doãn nên đã có tư chất để tiếp thu sự giáo dục của gia đình và ảnh hưởng của xã hội để trở thành nhân tài giỏi cả văn và võ, đóng góp nhiều công lao cho đất nước.

Thời kỳ trước Doãn Uẩn, trong họ Doãn đã có một số người học hành đỗ đạt có nhiều đóng góp cho đất nước được sử sách ghi nhận. Về văn quan có các cụ  như  Doãn Anh Khái (1130), Doãn Tử Tư (1164) được các triều vua nhà Lý cử làm đại sứ sang Tống đã làm cho vua Tống phải nể nang, kính phục. Thời nhà Trần, cụ Doãn Băng Hài đỗ tiến sĩ (1304), làm quan tới chức Thượng thư bộ Hình, được cử đi sứ nhà Nguyên, được đặc phong Thiếu bảo, thời Trần Minh Tông có cụ Doãn Ân Phủ và thời Trần Dụ Tông có cụ Doãn Thuấn Thần đều đi sứ nhà Minh (1372).  Cũng vào thời nhà Lê, cụ Doãn Hoằng Tuấn đỗ tiến sĩ năm 1478, làm quan tới chức Thượng thư bộ Lễ và người cháu ruột của cụ là cụ Doãn Mậu Khôi lại đỗ tiến sĩ (1502) làm quan tới chức  Thượng thư bộ Lễ, được tặng phong Thái bảo Hương giang công. Thời nhà Mạc có các cụ Doãn Đình Đống, đỗ  tiến sỹ năm 1571, làm quan tới chức Tổng tri Giám sát ngự sử, tước La sơn Hầu. Cụ Doãn Mậu Đàm, đỗ  tiến sĩ năm 1586 làm quan tới chức Thừa chính sứ được phong tước Thọ nham Tử.  Thời Lê Thần Tông, cụ Doãn Tuấn (1601 – 1666) đỗ tiến sĩ, làm quan đến chức Hiến sát sứ được gia phong Thái Bảo. ...

Về võ quan phải kể đến Thượng tướng quân Doãn Nỗ (1393 – 1439), tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, lập nhiều chiến công được Lê Thái tổ phong Khai quốc công thần, ban Quốc tính (Lê Nỗ) tước Quang phục hầu. Cụ Doãn Văn Hiệu đỗ  tiến sĩ (1541) làm quan tới chức Tổng binh, tước Đằng khê bá. Cụ Doãn Hy (1572 – 1642) làm Tả thị lang bộ Binh, có công được chúa Trịnh Tùng phong Phó quốc vương. Cụ Doãn Đăng Thức (1746 – 1819)  thi võ đậu tứ trường, đánh giặc có công được phong Uy vũ tướng quân hàm Bách bộ. ... 

Đối với người Việt Nam, gia phả của mỗi dòng họ chính là “Gia bảo” bởi không chỉ ghi chép về thế thứ, năm sinh, năm mất của người trong họ mà còn ghi lại nhưng lời giáo huấn, những đức tính tốt đẹp để nhắc nhở con cháu noi theo. Điểm lại một số bộ gia phả họ Doãn có thể thấy rất rõ những truyền thống họ Doãn được ghi chép và truyền lại cho con cháu thế hệ sau mà chắc chắn Doãn Uẩn đã tiếp thu và ứng dụng trong thực tiễn cuộc sống của mình, đó là:

Trong bài tựa Gia phả năm 1784 có đoạn cuối do cụ Doãn Thự và Doãn Duyện (ông nội và bác ruột của Doãn Uẩn) ghi: “Riêng ta phải ở xa quê, thường trải gian khổ, chỉ cố gắng đọc sách . Nhà ta đặc biệt không bao giờ sao nhãng sách sở thường hay khảo cứu cựu chí, thăm hỏi người trong họ, xin lược thuật như trên. Có người nào trong họ muốn phỏng theo người xưa, đem lý lẽ sách vở làm sáng tỏ cho gia môn thì đó là điều mong muốn nhất của ta”

Trong bài tựa Gia phả năm 1816 có đoạn : “Tổ tiên chúng ta đã lấy văn chương chiếm bảng vàng, lấy huân nghiệp giúp đất nước, lấy bút mực để lưu truyền tiếng thơm, làm rạng rỡ dòng dõi trâm anh cho đến nay thành danh gia vọng tộc. Có thể ghi hết được để làm gương cho con cháu mãi mãi soi chăng !” và “ ... thường nghĩ đến việc gìn giữ những điều gia huấn, noi theo nền nếp thanh cao, chẳng những để cho mình được lạm hưởng cái hương thơm danh giá của tiền nhân, mà điều mong muốn hơn tất cả là con cháu sau này xem đến phả như thấy được cha ông ở trước mắt, vừa nghiêm túc, vừa kính sợ mà nghĩ rằng sự nghiệp cha ông kiến tạo đã gian nan  thì đời sau không thể quên được việc thuật lại và lại càng phải cố công tu dưỡng về đạo đức, tiến bộ trong sự nghiệp ngõ hầu có thể làm rộng lớn gia môn ta, làm rạng vẻ tộc phả ta, từ trong nhà ra ngoài nước, họ tên được ghi trong sử sách”.

            Cùng với truyền thống chung của dòng họ, ảnh hưởng của gia đình cũng là một yếu tố quan trọng góp phần tạo nên nhân cách và tài năng của Doãn Uẩn. Ông nội của Doãn Uẩn là Doãn Thự đã để lại trong gia phả họ Doãn năm 1784 về 8 chữ  được coi là Gia pháp của họ Doãn, đó là “ Tích đức cầu địa - Giáo tử độc thư ”  (theo giải nghĩa của ông Doãn Quang Thái: ý nghĩa chữ “địa” ở đây  được hiểu theo nghĩa là nền - vị thế, nền tảng để làm nên một gia đình, vị thế làm nên một con người - Tích đức để cầu mong có nền tảng gia đình tốt, dạy con đọc sách trong điều kiện xã hội hiện đại nên hiểu rộng ra là tạo điều kiện tốt nhất cho con cháu được học tập, kể cả học chữ học nghĩa và học nghề). Cụ Doãn Thai (1769 – 1838) là bác ruột của Doãn Uẩn cũng để lại  câu đối dán ở nhà, nơi dạy con cháu học:

 “Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú

Kiệm cần nhị tự, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh”

Theo giải nghĩa của ông Doãn Quang Thái: đọc sách (đi học) và canh tác (làm ruộng- hoạt động sản xuất căn bản của xã hội nông nghiệp) là hai vế vun đắp nên cái nghiệp của con người, đọc sách có thể mang đến cho con người sự vinh quang, canh tác có thể mang đến cho con người sự giầu có. Cần kiệm là hai điều quan trọng xử sự trong học tập và lao động. Cần cù mới làm nên sự nghiệp, tiết kiệm mới làm nên danh dự một con người.

Tại hội thảo khoa học “Thượng tướng quân Doãn Nỗ và Họ Doãn trong lịch sử” do Hội khoa học lịch sử Việt Nam phối hợp với các tỉnh Hải Hưng, Thái Bình, Hải Phòng, Hà Nội, Nam Hà, Thanh Hóa và dòng họ Doãn tổ chức ngày 15/12/1993 tại Văn miếu quốc tử giám Hà Nội, GS Trần Quốc Vượng có tham luận “Về một dòng họ của nền văn hiến Việt Nam” đã nhận định: Họ Doãn không phải là một họ to, song từ cổ đến nay đã cung cấp nhiều nhân tài cho đất nước, xứng danh một DÒNG HỌ VĂN HIẾN”. Kế thừa và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dòng họ, cùng với sự nỗ lực bản thân, Doãn Uẩn đã trở thành một danh nhân của đất nước. Không chỉ được triều đình tin dùng, khen thưởng mà còn được giới trí thức đương thời đánh giá cao.

 Làm quan võ thì không sợ chết, làm quan văn thì không tham của,        rằng chỉ mong thiên hạ thái bình.

Làm tôi thì trung, làm con thì hiếu, khí khái anh hùng                           chết vẫn còn lẫm liệt như sống.

(Nội dung đôi câu đối của văn thân tỉnh Phú Yên xưa khi nhận định về đức tài của hai danh nhân cùng quê Thái Bình là Doãn Uẩn và Phạm Thế Hiển)    

           

Về nội dung thứ hai: những đóng góp của Doãn Uẩn bồi đắp thêm truyền thống tốt đẹp cho dòng họ Doãn .

Không chỉ thừa hưởng truyền thống quý báu của dòng họ, Doãn Uẩn còn trực tiếp  bồi đắp thêm truyền thống tốt đẹp cho dòng họ Doãn qua chính tấm gương cuộc đời mình.   Đó là tấm gương về sự ham học hỏi để nâng cao kiến thức, tấm gương về lòng yêu nước, thương dân, tấm gương về sự thanh liêm và tạo lập sự  cân bằng tinh thần trong cuộc sống.

Tấm gương về sự ham học và tu thân: có lẽ không cần nhắc lại sự ham học thời niên thiếu bởi không nỗ lực sao có thể được  là học trò của tiến sỹ Bùi Huy Bích, một danh nho đương thời, không nỗ lực sao có thể thi đỗ được học vị “cử nhân”, chỉ dưới học vị Tiến sỹ của thời đó. Khi đã đỗ đạt, tham gia quan trường, Doãn Uẩn vẫn tiếp tục nỗ lực tự học không ngừng. Không ham học sao có thể trong hai mươi năm đảm nhận được nhiều công việc chuyên môn nghiệp vụ khác nhau của bộ Hộ, bộ Hình, bộ Binh, từ các chức vụ lang trung, thị lang, tham tri đến thượng thư.  Không ham học sao có thể làm phúc khảo, chủ khảo ở trường thi Gia Định, Bắc Thành, Nghệ An. Không ham học sao có thể  hoàn thành tốt được các chức vụ quản lý địa phương như Án sát (Vĩnh Long, Thái Nguyên), tuần phủ (Hưng Yên, An Giang) tổng đốc (Định Yên, An – Hà). Không ham học sao có thể nhiều lần được   tham dự bàn bạc hoặc thay mặt Vua thị sát kiểm tra công việc ở những nơi có sự vụ nghiêm trọng như Phó kinh lược xứ Thanh Hóa, Phó khâm sai đại thần ở Trấn Tây, quyền sung Trấn Tây bang biện đại thần, Tham tán đại thần Trấn Tây.  Để hoàn thành và hoàn thành tốt các trọng trách được giao (nhiều lần được Vua khen thưởng, được thăng tiến nhanh) thì có thể thấy việc học của Cụ phải liên tục, không tự bằng lòng hoặc dừng nghỉ. Đặc biệt, có hai việc Doãn Uẩn thể hiện kiến thức sâu rộng của Cụ, đó là việc quân điền ở Bình Định và việc từ một quan văn, trở thành võ tướng xuất sắc chỉ huy thắng lợi một số trận đánh quan trọng có tầm ảnh hưởng đến quốc gia, được đúc tên vào súng thần công, ghi tên vào bia đá tại Võ miếu, được cả 3 đời vua đều khen ngợi quý mến. Không nỗ lực học tập sao có thể được công nhận là “thực học” như sắc phong của Vua Thiệu Trị   An tây mưu lược tướng Doãn Uẩn là người thực học, liệu định việc nước thực tài ba mà thận trọng như đi giữa đêm tối; mọi việc đều siêng năng chu đáo; Làm quan đại thần mà ở trong lòng dân; biên cương có giặc là bút, áo giáp hiên ngang

 Kiến thức của Cụ có được, không chỉ từ sách vở mà chủ yếu từ thực tiễn cuộc sống. Quan điểm này được thể hiện trong bài thơ “Ngẫu hành” của Cụ:

Kẻ sĩ chưa ra khỏi cửa thì không thể gọi là từng trải

Người ta không lăn lộn với đời thì ai dám nói rằng thông thạo

 (Nguyễn Văn Huyền  dịch)

Bao trùm việc học là ý thức về “Tu thân” để được  thành người “Quân tử”. Trong bài “ mộng tác” (thơ ghi lại giấc mộng) Cụ đã xác định:

Kẻ sĩ phải thế nào?

Được đời gọi đoan sĩ"

Chính tâm và tu thân

Yên vui noi theo "lý"

Trung tín tin phục vật

Hiếu nghĩa cảm động thầm

Quân tử giữ được chăng

Hành động, nguyền giữ chí (Nguyễn Văn Huyền  dịch))

 

Tấm gương về lòng yêu nước: Những công lao, chiến tích của Doãn Uẩn đã có sử sách ghi lại là những minh chứng cho lòng yêu nước của Cụ. Không chỉ vậy, lòng yêu nước của Doãn Uẩn còn thể hiện qua sự tận tụy hết mình, không quản khó nhọc, hiểm nguy để hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Hai mươi năm làm quan là hai mươi năm luôn di chuyển đến các nơi trị sở mới. Không kể quê hương và kinh đô Phú Xuân, những nơi Doãn Uẩn đến để thực thi các chức phận Vua giao gồm có các tỉnh: Bình Định, Vĩnh Long, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nam Định – Hưng Yên, Bắc Thành (Hà Nội), Hòa Bình, Nghệ An, An Giang, Hà Tiên ... Trong đó phải đến gần nửa thời gian là thực hiện nhiệm vụ về quân sự ở Vĩnh Long, Thái Nguyên, Hưng Yên, An Giang – Hà Tiên. Có nhiều khi vất vả hiểm nguy như trong lời dẫn bài thơ “Thuật hoài” làm khi Cụ tròn 50 tuổi:  “Kể từ khi làm quan đến nay: sự biến ở Vĩnh Long, một mình trong cảnh nguy cấp; làm đốc vận quân lương ở Thái Nguyên, lăn lóc từ lâu đến Kinh lược Thanh Hoá, Bang biện Trấn Tây, hiểm trở gian nan, khốn khó trăm phần không thề nói hết. Từ năm Quý Tị, Minh Mệnh thứ 14 (1835), phàm có việc biên cương, quân thú, không việc gì là không cáng đáng, tuy không một phân tắc công lao song cũng đã kề bên cái chết nhiều lần”.

Tấm gương về lòng thương dân: Những tưởng những vị quan to, để được Vua tin dùng thì thường xa rời dân, nhưng đối với Doãn Uẩn thì không thế: Nước không thể tách với Dân, vì yêu nước nên trung thành, tận tụy với Triều đình và yêu nước luôn đi kèm với thương dân. Thương dân và trăn trở với nguyên nhân làm dân khổ, giận ghét những kẻ làm hại, làm khổ dân và ưu tư với trách nhiệm của mình.  Những tâm sự này của Doãn Uẩn được thể hiện rất rõ qua các bài thơ trong “Tuy tĩnh tử tạp ngôn”: 

Ví dụ bài thơ “Người nông phu”:

Nhà nông năm nắng mười sương,
Áo cơm trông ở ruộng vườn sớm hôm.
Thu được mấy thúng thóc còm                                                                
Đầu tắt mặt tối đâu còn nghỉ ngơi.
Trong suất thuế nộp đủ rồi,
Cường hào hà lạm lại xơi nửa phần.
Lấm đầu chi ngại thân lươn
Nhưng còn con cháu mặc ăn bằng gì.
Giận thay lũ ác bá kia
Tao còn có oán thù chi với mày.
Suốt ngày là lượt chơi dài,
Còn vênh vang mặt thị oai công hầu (Nguyễn Văn Huyền  dịch)

Hoặc một số câu trong các bài khác: 

Xem ca múa ở chốn lầu xanh

Xe ngựa áo cừu đều cướp ở chốn làng mạc (Nguyễn Văn Huyền  dịch)

Hoặc:  

 Tâm trí người ta vì lợi mà tối tăm

Dân khổ vì chinh chiến ác liệt mà bỏ cả nghề nghiệp

Quan vì hối lộ mà sinh ra việc thôn tính lẫn nhau.

 (Nguyễn Văn Huyền  dịch)

Khi làm Tuần phủ An Giang Cụ cảm khái:

.... Nhà cỏ dân bần giữa đồng hoang.

Trong nhà lạnh lẽo, dân quen chịu,

Ngoài lũy người run, giặc chẳng hàn.

Dân lành khó nhọc chưa giúp được,

Tay nâng chén rượu dạ chẳng an. (Doãn Quang Thái dịch)

Với tấm lòng thương dân, với công việc và trọng trách của mình, chắc chắn Doãn Uẩn đã giúp dân cư nhiều địa phương phần nào giảm bớt nỗi khổ cực, ví dụ như những người dân được cấp ruộng công ở Bình Định, những người dân trong vùng chiến sự ở Vĩnh Long, Thái Nguyên hay những địa phương mà Cụ làm tuần phủ, án sát, tổng đốc ... Thật cảm động khi đọc lại bản điều trần của Doãn Uẩn và Nguyễn Tri Phương trước tình hình bão lụt ở An Giang: “Đấng thiên tử thể theo đức nguyên của trời, thường gặp tai biến mà biết sợ. Thế cho nên thấy mặt trời hoặc ngôi sao cảnh cáo còn phải nhận là lỗi mình, huống chi nay bão lụt khác thường, há lại cho rằng tuyền do khí vận ? Nhân xin điều trần 3 việc:

1-      Xin liệu giảm bớt thuế thanh tra

2-      Xin rút bỏ hư ngạch ở sổ các dân

3-      Xin tha cho thuế lệ còn đọng thiếu

.... “Lục tỉnh Nam Kỳ năm ngoái dịch lệ lưu hành, thóc lúa kém thu hoạch, xin đều cho tha thuế một năm để dần được hồi phục những nỗi khổ thì căn bản nước được vững vàn,g mà tuyệt được sự dòm dỏ của giặc ngoài”

Có lẽ bài thơ  “Nông phu” và lời tâu vua trên của Doãn Uẩn vẫn còn thời sự đến ngày nay.

Một việc giúp dân quan trọng ở tầm vĩ mô không thể không kể đến là việc Doãn Uẩn (cùng với một số quan đại thần khác) đã  tâu với vua Minh Mạng không nên chiếm đóng nước Chân Lạp (mặc dù Việt Nam đang thế thắng). Đây không chỉ là sự sáng suốt về chính trị đối ngoại mà còn thể hiện tấm lòng thương dân bởi sống cùng nông dân từ nhỏ, cảm nhận được nỗi khổ của dân, hơn ai hết, Doãn Uẩn biết hậu quả việc chiếm giữ Chân Lạp sẽ tác hại như thế nào đối với người dân cả nước vốn đã quá cực khổ. Thật may, vua Thiệu Trị đã nghe theo những bề tôi tâm huyết với nước với dân.

Tấm gương về sự thanh liêm: là một vị trọng thần nhưng Doãn Uẩn vẫn giữ cuộc sống đạm bạc đơn sơ . Điều này có thể thấy trong một số bài thơ của “Tuy tĩnh tử tạp ngôn”. Doãn Uẩn cũng để lại giai thoại cuộc sống giản dị (làm đến chức quan to mà vẫn dùng chiếc lược sừng trâu cụt cả răng) và về việc không nhận của biếu của viên Bố chính Hà Tiên hay của Tổng Giun ở Thái Nguyên. Sau khi Cụ qua đời, vua Tự Đức đánh giá “... lúc Uẩn còn sống, vì nước hết sức khó nhọc, vốn có tiếng là liêm chính và tài năng, truy tặng làm Hiệp biện Đại học sỹ....”. Thật xúc động khi đọc đoạn viết trong gia phả họ Doãn Song Lãng (Vũ Thư, Thái Bình):  Khi mở tráp của vị danh thần lừng lẫy tiếng tăm thấy một cuốn sồ "nhật kí" có ghi còn nợ của người 1.000 quan tiền...”. Vị Tổng đốc An Hà  mới là Cao Hữu Bằng đã phải tâu  xin triều đình ban ơn ngoại lệ “U

    Bình luận       Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server In       Lên trên

 
Viết bình luận của bạn:

Tên:
Email:
Tiêu đề:
Bình luận:
 


Các tin khác:
Vinh danh Doãn Uẩn- Niềm tự hào của cả họ



LÊN ĐẦU TRANG
VIDEO CLIP
 
  • Khánh thành tu tạo nhà thờ Sơn Đồng ngày 23/12/2012
  • Lễ Giỗ và khánh thành lăng mộ Tổ (Clip 2)
  • Clip hóa bát hương tại lễ khánh thành Lăng mộ Tổ 18/3/Nhâm Thìn
  • Lễ Giỗ và Khánh thành lăng mộ Tổ 18-19/3/Nhâm Thìn
  • ALBUM ẢNH
    Ý KIẾN NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đề xuất một phương án xây dựng nhà thờ mới
  • THư của Doãn Thị Dương Tuyên (Bố Trạch - Quảng Bình)
  • Thư của Doãn Thị Hương
  • THÔNG TIN TÌM VIỆC
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần hỗ trợ học tập
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần tìm việc làm
  • HỖ TRỢ TN-SINH VIÊN
  • THƯ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM CHO NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đại lý bếp đun trấu không khói
  • Thông tin có thể hỗ trợ học tập và tìm việc làm
  • QUỸ KHUYẾN HỌC
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2014
  • THONG BAO VE KHUYEN HOC
  • Danh sách phát thưởng khuyến học dịp giỗ 1/3 Quý Tỵ tại An Duyên
  • Danh sách XD Quỹ Khuyến học năm 2011, 2012 và 2013
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2012 (đợt 3)
  • CÁCH SỐNG
  • Bàn về sự ấu trĩ
  • Chiến lược và cạnh tranh (Michael Porter)
  • Những điều răn của cổ nhân
  • Học làm người
  • Thành kiến
  • VIỆC HỌC & PP HỌC
  • Học như thế nào?
  • Trao học bổng Amcham 2012
  • Giới thiệu về một số phương pháp TƯ DUY
  • Phương pháp học tập và luyện thi hiệu quả
  • NGŨ TRI ĐƯỜNG
  • SÁCH & TÀI LIỆU HỌC
  • YẾU LƯỢC SỬ CA
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Chương2: Sóng Cơ
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Dao động điều hòa
  • Địa chỉ các website phục vụ việc học tập
  • HỘI NGHỊ 16-1-2010
  • Thư của ông Doãn Minh Tâm tại hội nghị 16/1/2010
  • Ảnh chụp tại hội nghị 16-1-2010
  • Phát biểu khai mạc Hội nghị
  • Phát biểu của đại điện Ban liên lạc dòng họ
  • Vài lời phân tích kết quả thi ĐH 2009 của con cháu họ Doãn
  • NGỤ NGÔN VÀ TRIẾT LÝ
  • Ngu công dời núi
  • Chim Hỉ Thước
  • Gia Cát Khổng Minh khuyên con
  • chữ NHẪN
  • Lời Phật dạy
  • CÂU LẠC BỘ THANH NIÊN
  • Thông báo về việc tạm hoãn hội nghị CLBTN họ Doãn
  • DIỄN ĐÀN MỚI CỦA THANH NIÊN HỌ DOÃN
  • Danh sách thành viên CLB (theo chi)
  • Tổ chức và Chương trình hoạt động
  • Danh sách thành viên CLB (theo Trường, tổ chức)
  • Thời tiết | Giá vàng | Giá ngoại tệ | Liên hệ | QUAY VỀ TRANG CHỦ

    Bản quyền thuộc Ban liên lạc Họ Doãn Việt Nam
    (Vui lòng ghi rõ nguồn tin nếu bạn sử dụng thông tin từ trang web này)