TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
TIN TỨC
SƠ ĐỒ DÒNG HỌ
BLOG
TÀI LIỆU
LIÊN HỆ
LỊCH SỬ & PHÁT TRIỂN
Khởi nguồn
Danh sách các chi họ
Các Chi tự giới thiệu
CÁC TỔ CHỨC HỌ DOÃN
Ban liên lạc toàn quốc
Ban liên lạc các chi, liên chi
Quỹ khuyến học
CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH
Kỷ niêm 100 năm hợp biên GP
Hội thảo Doãn Uẩn 30/6/11
Hướng dẫn hoạt động
Tư liệu hoạt động dòng họ
CÁC DI SẢN HỌ DOÃN
Nhà thờ, Hoành phi, Câu đối
Địa danh họ Doãn
Những tấm gương
Văn học nghệ thuật
Ảnh, video và Khác
HỌ DOÃN TRONG LỊCH SỬ
Danh nhân họ Doãn thời xưa
Lễ kỷ niệm Doãn Uẩn
Hội thảo Doãn Khuê
Nhân vật họ Doãn thời nay
ẤN PHẨM HỌ DOÃN
Hợp phả họ Doãn 1992
Kỷ yếu hội thảo TTQ Doãn Nỗ 1993
Biên soạn Hợp phả 2011
Kỷ yếu HỌ DOÃN VN 4/2011
Kỷ yếu KHÁNH THÀNH LĂNG MỘ TỔ & GIỖ TỔ 4/2012
Danh mục ấn phẩm người họ Doãn
THÔNG TIN KHÁC VỀ HỌ DOÃN
Những hoàn cảnh khó khăn
Tấm lòng người họ DOÃN
LIÊN KẾT WEBSITE
QUẢNG CÁO
THỐNG KÊ WEBSITE
Đang truy cập:
Yahoo Chat
Skype Chat

 

 

 

CHÀO MỪNG BÀ CON TRONG DÒNG HỌ VÀ QUÝ KHÁCH ĐẾN THĂM WEBSITE HỌ DOÃN VIỆT NAM
Hợp phả họ Doãn 1992
HỢP PHẢ 1992 - PHẦN V VIỆC HỌC HÀNH THI CỬ VÀ CÔNG TÍCH CỦA TỔ TIÊN (3)

C. NHỮNG TRUYỆN TRÍCH TRONG PHẢ CŨ VỀ

HÀNH TRẠNG VÀ CÔNG TÍCH CỦA CÁC CỤ

 

Phả cũ còn để lại những trang viết về hành trạng, công tích của tổ tiên, những trang viết từ hàng trăm năm trước, nhưng có chuyện đến ngày nay vẫn có ý nghĩa giáo dục và nhắc nhở con cháu trong việc kế thừa và phát huy truyền thống. Không kể con trai mà cả những người con dâu của họ ta cũng có nhiều cụ đã để lại những tấm gương sáng về đức hạnh, về tinh thần đảm đang... Đây là những trang mới sưu tầm được ở một số nơi nhưng nó cũng nêu được phần nào hành trạng và công tích chung của bao bậc tiền nhân khác trong họ ta.

a. Trong phả chi Cổ Định.

1. Về cụ Doãn Băng Hài, khi đi sứ Nguyên, phả ghi:

“... Đến Yên Kinh, vào triều bái yết, Hoàng đế  Nhân Tông nhà Nguyên hỏi: Nước Nam nhỏ bé, sao không sợ oai trời ? Ba lần đắc tội 1 , sao nay mới tới, chậm vậy ? Cụ tâu rằng: Thần ở nước Nam nhỏ bé thường nghe nói rằng: cha hiền thì con hiếu, cha không hiền thì sao có con hiếu thuận được ! Đó là lẽ đương nhiên, sao gọi là nhanh chậm được? Nguyên Nhân Tông nghe nói cười xoà, vui vẻ khen: Chánh sứ An Nam thực là người có trí lực ! Từ đó đãi sứ đoàn trọng hậu phân minh và chỉ thị cho quan nhà Nguyên cùng sứ bộ soạn thảo thể lệ hoà hiếu bang giao.

Việc xong, sứ bộ xin về, thiên triều đạt giấy đi các nơi, nghi lễ tống tiễn hậu hỹ vô cùng ...”.

2. Về cụ  Năng tự Hành, cháu 4 đời cụ Doãn Băng Hài, phả ghi: “Năm Ất Mùi (1415), hương Cổ Na bị giặc Minh vây hãm, cả vùng bị giết hại hơn ba nghin người. Cụ cùng 18 người làng chạy thoát. Cụ ra làm quan thời Lê Lợi, sau cụ về lập lại làng cũ, giữ dòng họ Doãn cho đến ngày nay...”

3. Về cụ Doãn  Nỗ, Khai quốc công thần triều Lê (em cụ Doãn Năng), phả ghi: “Căm thù giặc tàn sát làng mạc, họ đương, gia đình, cụ tình nguyện theo chúa Lam Sơn diệt giặc. Ngay từ sau hội thề Lũng Nhai, khi vua dựng cờ khởi nghĩa (1418), cụ đã có mặt. Cụ chiến đấu rất hăng, nhiều trận làm giặc khiếp vía, kinh hồn. Cụ lập công lớn nên được phong Khai quốc công thần, ban tặng họ Vua, thường gọi là Lê Nỗ...”.

4 Về cụ Doãn Hy, cháu 8 đời cụ Doãn Băng Hài, phả ghi: “... Năm Nhâm Tuất (1622) Trịnh Xuân nổi loạn, vây đốt phủ chúa. Trịnh Tùng phá vây chạy ra ngoài, bị thương nặng. Cụ (Doãn Hy) vừa công chúa chạy, vừa chống lại quân giặc đuổi theo. Đến quán Thanh Xuân, xã Hoàng Mai, huyện Thanh Đàm thì quan quân bảo vệ chúa chạy kịp. Nhà chúa khi ấy đã kiệt sức, lấy máu mình viết lên quần vải trắng của cụ Doãn sáu chữ: “Còn nhà tớ nhớ nhà người” rồi dùng cả bàn tay bị thương đẫm máu in lên quần thay dấu ấn triều đình, ý dặn con cháu nhà chúa đời đời phải nhớ đền ơn họ Doãn.

Trịnh Tráng nối nghiệp Trịnh tùng, cọi cụ là ân nhân nhà chúa, thường xuyên đi lại thăm hỏi. Cụ được phong chí sĩ Thiếu Bảo, tặng Công bộ thượng thư, gia phong Phó uý, sau lại gia phong Thiếu uý Nhân quận công thượng thượng trật, sau lại gia phong “Phó quốc vương Doãn tướng công tự Trung Hiếu, thuỵ Cương Trực, huý Hy”1 .

Sau khi mất, cụ được phong hàm phúc thần và được lập miếu thờ.

Người đời sau có thơ vịnh như sau:

“Cổ lai bản xã vô vương trước

Duy chỉ Tướng công đạt phó vương

Cửu chúa danh thành cao ân điển

Năng thức Trịnh gia trọng nghĩa trường!”.

5. Về cụ Doãn Tuấn, tự Đình Tá, con cụ Doãn Hy, Phả ghi:

“... Cụ học hành thông minh, trác lạc, nổi tiếng đương thời, năm 20 tuổi thi hương đỗ tứ trường, năm 26 tuổi, thi hội khoa Bính Dần (1626) đỗ tiến sĩ thứ 4. Cụ làm quan nổi tiếng thanh liêm, cương trực, thăng đến Hiến sát sứ, được phong Hanh nguyên tế tự Dực vận công thần, lại được gia phong Thiếu Bảo. Cụ là một sĩ phu uyên bác, đức hạnh khuôn mẫu nên được Nho lâm thời ấy kính trọng...”

b. Trong phả chi Sơn Đồng:

1. Cụ Doãn Cầm, là con trưởng cụ Ước Ngôn, đỗ nhị trường, được bổ làm Thập lý hầu làm việc dân dã, tính tình cương trực, liêm khiết, dân làng ai cũng kính nể. Cụ luôn hướng con cháu lấy học vấn để tiến thân, lấy điềm viên mà dựng nghiệp. Bởi thế con trai trưởng của cụ là Doãn Cương Trực, đỗ tứ trường thời Lê Hiến Tông cụ sống rất đôn hậu, giàu lòng thương người, gặp năm mất mùa cụ đem gạo cứu đói cho dân, được nhân dân rất kính trọng và ca ngợi. Cụ đã cùng cụ bà dựng ngôi nhà thờ tổ là di sản quý của chi họ còn đến ngày nay.

2. Cụ Doãn Cương Trực, hiệu Đôn Nhã, là con trưởng cụ Doãn Cầm; là người thông minh, học rộng, năm 20 tuổi thi hương đỗ tứ trường dưới triều Lê Hiến Tông, được bổ tri huyện huyện Vĩnh Ninh. Cụ sống rất thanh liêm, chính trực nhưng gặp thời vua Lê, chúa Trịnh, cụ đã chán cảnh xu nịnh của các quan trên nên cụ đã cáo quan về hưu. Khi về, vui với cảnh điền viên, tính tình phóng khoáng, cụ giao lưu rộng rãi với các văn sĩ trong vùng tham gia văn hội, lập văn chỉ hội họp hàng năm vào dịp giỗ đức Khổng Tử. Con trưởng của cụ là Doãn Cương Nghị, đỗ cử nhân, giữ chức cai hợp thức, khi quân Tây Sơn ra Bắc diệt Trịnh, cụ chiêu mộ quân định chống lại. Nhưng cha là cụ Cương Trực khuyên rằng: “Chế độ nhà Lê đã suy tàn, cha đã bỏ công danh về ở ấn, vui với điền viên, vậy con khôngn ên kháng cự”. Nghe lời cha, cụ Nghị đã bỏ về vui cảnh điền viên, không chống lại nhà Tây Sơn nữa.

c. Trong phả chi Phú Mỹ:

1. Cụ Nguyễn Thị Rạ, chính thất của cụ Doãn Đăng Khoa:

“Cụ goá chồng năm 28 tuổi, anh em ruột và họ hàng đều không có, hai con còn bé dại. Bằng đôi tay lao động và nghị lực của mình, cụ đã ở vậy thờ chồng nuôi con, giáo dục con nối chí ông cha. Tuy cảnh nghèo túng, cụ vẫn cố cho người con trưởng đi học và luôn động viên khích lệ con hăng say đèn sách. Bởi thế con cụ đã đỗ Hương cống năm 1708 dưới triều Lê, thi hội trúng tam trường, đó là cụ Doãn Bá Khanh. Từ đó, con cháu cụ liên tục đời dời kế nghiệp nho gia, trướng trường. Cụ được phong tiết phụ, thọ 70 tuổi”.

2. Về cụ Doãn Bá Khanh (cháu 5 đời cụ Phúc Trịnh), mồ côi cha năm 11 tuổi, cụ cố gắng đèn sách, năm 1708 đỗ hương cống và thi hội trúng tam trường. “... Khi cụ làm tri huyện ở Thanh Oai, có một lần đi chấm thi, cụ chấm cho một sĩ tử xã Văn Giáp là Hoàng vỹ đỗ đầu xứ. Quan Thừa chính sứ xứ Sơn Nam (tức Hà Đông sau này) ăn đút lót của một thí sinh khác nên dặn cụ cho tên ấy đỗ đầu và hạ Hoàng Vỹ xuống. Cụ không nghe, quan Thừa chính sứ tức giận lắm, bèn trả thù bằng cách khi thi tại tỉnh, tìm cách đưa Hoàng Vỹ xuống thứ 23. Lúc ấy, trước mắt đầy đủ các quan tri phủ, tri huyện ở dinh trấn, quan Thừa chính sứ nói: Văn lý của Hoàng Vỹ rất tầm thường mà viên tri huyện Thanh Oai dám lấy đỗ đầu ! Như thế là chấm không tinh, phải mau mà chịu phạt. Lúc đó không chút sợ hãi, bằng giọng tự tin cụ nói: Thi tại tỉnh, còn là quyền ở trong tay quan lớn. Xin khất đến kỳ thi hương, nếu Hoàng Vỹ không đỗ thủ khoa, tôi xin không những chỉ chịu phạt mà còn xin trả lại chức tri huyện này nữa.

Khoa thi hương ấy, Hoàng Vỹ không những đỗ thủ khoa mà vào thi Hội lại đỗ liền hội nguyên1.

Cụ làm quan ở huyện Thanh Oai 6 năm, lúc mãn hạn phải về hưu. Nghe tin ấy, dân trong huyện náo nức rủ nhau đến dinh quan trấn thủ xin lưu cụ lại, nhưng không được. Ngày cụ trở về quê, cả đám dân chúng lại rủ nhau đi thuê thuyền và đưa tiễn cụ đến tận bến đò Lềnh2, rồi làm thơ cảm tạ ơn cụ. Lúc làm tri huyện, cụ rất được dân yêu mến nên thường gọi cụ là “huyện Bụt”

3. Về cụ Doãn Huy Thuỳ (cháu gọi cụ Bá Khanh là ông)

Năm 21 tuổi, khoa Kỷ Hợi (177() cụ dự thi hương, phả ghi:

“Hôm thi ấy, quan đề điệu là Đặng Khiêm ngờ cụ không có thực tài, bèn sai lính trương canh chặt cả hai mặt lều, rồi cắm bốn cái cọc buộc chặt lều thi của cụ lại. Sau đó, quan đề điệu chép sẵn đầu bài, ném vào lều, không để cụ ra ngoài. Nhưng chỉ một lúc sau, cụ đã làm xong bài, đưa cho quan đề điệu xem. Thấy văn cụ hay quá, quan cầm ngay bút phê chữ “Trúng” rất lớn  vào mặt quyển ...”.

4. Về cụ Doãn, tự Huy Khôi, đỗ cử nhân khoa Canh Ngọ đời Tự Đức (1870), là con cụ Đụp Doãn Huy Chân, phả ghi:

“...Cụ học giỏi, văn chương rất uẩn súc, chí lại hiên ngang, thi hội, văn bài được vua khen nhưng không đõ, ai cũng tiếc. Khi quân Pháp ra Bắc, cụ đốc suất lính dũng trong làng ra cụ địch, việc yên cụ vào kinh nhận chức Hành Tẩu, được ký bổ tri huyện, nhưng chưa nhận chức thì bị bệnh, cụ bỏ về quê thuốc thang không màng tới sự làm quan nữa.

Một hôm cụ cùng dân làng uống rượu tại đình, có tên tướng giặc đi qua sách nhiễu dân, cụ đứng ra đấu lý, tên giặc phải lùi.

Ông bạn đỗ cử nhân cùng khoa với cụ là Nguyễn Đình Dương, sau đỗ Hoàng giáp, thường nói rằng: “Nếu ông cử Khôi ở Phú Mỹ mà còn sống, ta không đỗ trên ông ấy được”.

d. Trong phả chi Song Lẵng.

1. Cụ Doãn Duệ, tự Mẫn Thận, niên hiệu Đình Liệt, khoa Đinh Dậu triều Lê Dụ Tông thi hương trúng tứ trường thứ haim được bổ làm tri huyện. “Lúc ít tuổi, cụ đã nổi tiếng nơi trường ốc, người đương thời thường gọi là “Sỹ Củng” (trò Củng) là vì cụ với Ngô Tuấn Củng, người cùng huyện, nổi tiếng ngang nhau (Ngô Tuấn Củng người Kiên Lao, huyện Giao Thuỷ, là người có tiếng văn hay). Lúc ấy có câu ngạn ngữ: “Tuấn Củng tuấn dị, thiên hạ vô nhị” (Tuấn Củng là trang anh tuấn lạ thường trên đời không coa hai)1

“Bình sinh cụ là người thuần hậu, thận trọng, thờ cha mẹ rất hiếu thảo, đối đãi với anh em rất thuận hoà, xử sự với bạn bè hậu hĩ mà giữ chữ tín; mua trữ sách lạ đến hơn ngàn cuốn, phàm các sách của bách gia chư tử, thiên văn địa lý, không sách nào là không đọc. Trong việc gìn giữ nền nếp gia đình thì nét bút cuốn “Dã phu đình huấn” hãy còn mới 2, thường lấy tám chữ “Tích đức cầu địa, giáo tử độc thư” 3 làm phép nhà ...”

2. Cụ Doãn Thự, tự Nhã Đạm, hiệu Kính Hiên, năm 41 tuổi thi hương mới đỗ tứ trường, cụ Doãn Uẩn có ghi trong phả: “Tiền nhân ta lập thân gian nan, vất vả đếnn hư thế, cho nên về vau lấy phúc đức truyền lại cho người sau, con cháu chúng ta há chẳng lấy đó mà tâm niệm chăng!”.

Về tính nết cụ Doãn Thự thì cụ Doãn Uẩn viết: “Uẩn tôi thường được nghe mẹ kể rằng: Ông nhà ta (nguyên văn là “tiên cữu” = bố chồng, đây xin dịch thế cho thoát ý) tính tình hiền lành, hoà nhã. Lúc bình thường chưa bao giờ thấy ông đổi nét mặt, nói năng với ai. Với kẻ ăn người ở, ông lại càng khoan dung. Khi cơm canh lỡ có chưa chín, ông cũng gắng gượng ăn, không hề phàn nàn, có chăng cũng chỉ nhắc: sao bay không làm tử tế một chút ! Đại để như thế cả. Song đến việc dạy dỗ các con thì ông rất nghiêm khắc, phép tắc lắm. Bác cả con nay đã thi đỗ làm quan, ấy thế mà trước đây có lỗi, ông vấn đánh roi không tha. Mọi việc mẹ không biết được hết, song gia phong nhà ta được như thế nay, bọn các con phải nhớ mà cố gắng học tập”

“Mùa hè năm Bính Ngọ (1786), quân Tây Sơn ra Bắc, Thăng Long thất thủ, trong nước không có chủ, nhân đó giặc đã các nơi nổi dạy, châu huyện không thể chống lại được. Dân chúng suy tôn cụ lên làm huyện trường cùng với các văn thân trong huyện (như cụ Huấn đạo phủ Thiên trường, quê ở xã Hương Cáp; hai anh em cụ Giảng dụ họ Đỗ ở xã An Đế) và con trai trưởng (là cụ Huấn đoạ Tỉnh Hiên Doãn Duyện) đoàn kết hào mục các tổng lấy hương binh ở 8 tổng của huyện Thư Trì để chống giữ, nên có tên “quân tám tổng huyện Thư Trì”. Lúc ấy hài phỉ là tên Kình, tên Đen cùng với quận Ô, quận Ấn, các loại phỉ có hàng trăm thuyền kéo đến bến sông thuộc hai xã Thượng Bổng Điền, Phú Chử. Huyện bình giao chiến, giết được hàng chục tên, phỉ phải rút chạy. Mấy năm sau đó huyện trở lại yên ổn. Đó là do công của cụ.

Năm Kỷ Dậu (1789), dân xã Khê Kiều phiêu tán, cụ bỏ tiền của gia đình chiêu tập những người dân lưu vong, dân lại trở về, cụ phát triển nghề nông nên dân lại yên ổn làm ăn.

Năm Quý Sửu (1793), Đô Đốc nhà Tây Sơn, coi cụ như thầy học, đến mời cụ. Cụ nhận lời mời đến gặp, sau đó mấy tháng thì cụ ốn và qua đời...”.

3. Về con dâu cụ Doãn Thự, (tức là mẹ cụ Doãn Uẩn), phả ghi:

“... Mẹ ta thường bảo rằng: Ta lúc sinh thời thờ bố chồng, nhà cửa thanh bạch mà trong nhà lúc nào cũng có khách, học trò đến để ăn học thường có trên chục người, gạo thóc thường không đủ. Mẹ chồng ta thường vay lãi để cung cấp mà vẫn vui vẻ.

Khi quân Tây Sơn ra Bắc, gặp lúc mất mùa, đói kém, ngoài cửa lúc nào cũng có đến vài chuc người đến xin ăn. Mẹ chồng ta sai đem cơm cháo phát cho, không đủ phải lấy cả ngô khoai cấp thêm. Nhờ thế mà nhiều người được sống sót. Vì  vậy cảnh nghèo đói đã là việc thường tình của ta rồi nên ta quen lắm...

Năm cụ phong công (tức cha cụ Doãn Uẩn) tạ thế, lúc đó Uẩn  mới 20 tuổi, em Trân mới 10 tuổi, nhà còn ở Khê Kiều, trong nhà có đến hàng ngàn quyển sách, nhưng không có thứ gì dùng cho đỡ đói. Mẹ ta chịu khó, vất vả nuôi con, chăn tằm dệt vải để sinh sống. Trong nhà lúc nào cúng không có gạo để dành đến hôm sau, có ngày chỉ ăn một bữa. Nhưng nếu con có khách, vẫn vui vẻ khoản đãi không lộ vẻ khó khăn, mà càng mừng là con có thầy, có bạn. Việc nhà rất tiết kiệm nhưng việc tế tự, tiếp khách rất đàng hoàng, chu đáo...

Uẩn này có lỗi bị mẹ khiển trách ngay, vì thế trong gia đình cũng nhờ được cách dạy bảo nghiêm minh đó...”

4. Về cụ tiến sĩ Doãn Khuê, Doanh điền sứ Kiêm thương biện hải phòng, Đốc học Nam Định, phả ghi:

“... Năm Thiệu Trị thứ hai (1842), tháng 6, cụ được dẫn đến yết kiến vua và được bổ thừ chỉ, quyền Ngự sử đạo Lạng Binh. Lúc này quốc hiếu (tức tang vua Minh Mệnh) chưa hết, nhà vua đã hạ lệnh soạn nhạc và làm nhạc cụ. Cụ cùng vài ba người trong Ngự Sử đài, dâng biểu ra sức can ngăn. Nhà vua giận lắm. Sau ngày dâng biểu, đến lượt cụ vào trực hầu, vua nổi cơn thịnh nộ phán rằng: Người cho trẫm là ông vua như thế nào đây ? ... Rồi đập cái chậu rửa tay xuống đất. Các thị thần không ai là không run sợ. Song cũng chẳng ai bị buộc vào tội gì. Sau đó cụ lấy cớ mắt có tật rồi cáo hưu...

“... Khi cụ làm đốc học Nam Định, con cháu nội, ngoại đều theo cụ học tập, cụ chu cấp cho ăn uống và chi tiêu đầy đủ; trong họ, nếu nhà ai túng thiếu, không lo được giỗ, tết, cụ chu cấp cho tiền gạo để gia đình ấy lo liệu được, để giữ cho hiếu đạod vẹn toàn. Họ hàng hoặc nhân dân, ai gặp nạn hoặc bị đói rét, cụ vẫn sẵn lòng cứu giúp”.

5. Về cụ Vũ Thị Thành, con dâu cụ Doãn Khuê, vọ cụ Doãn Giốc, phả cũng không quên ghi: “Khi cụ ông mới 20 tuổi bị trận vong, cụ còn rất trẻ, chưa có con mà vẫn không cải giá; cụ trinh cư thủ tiết tới 80 tuổi mới mất. Cụ phụng sự cha mẹ chồng, tiên tổ rất kính hiếu, với con cháu rất hoà nhã, bác ái, thật là người hiếm có !...”

6. Cụ Doãn Vy, tự Bảo Chân (là con trai thứ ba cụ Doãn Khuê) là người thông minh, học rộng, các cụ đỗ đạt trong phủ hạt đều khen ngợi, nhưng cụ không đi thi vi cụ chủ trương bài Pháp (lúc đó thực dân Pháp bắt đầu đặt nền thống trị trên đất nước ta). Cụ cùng một số bạn văn thân tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục.

e. Trong phả chi Hoành Nhị, về cụ Doãn Đình Văn, tự Hiền Lương, hiệu Đình Á, con út cụ Lạc Thiện Doãn Đình quyển, có ghi:

“cụ Doãn Đình Văn la sơ tổ chi Hoành Nhị, là một trong bẩy cụ của bảy họ có công xây dựng làng Hoành Nhị. Dưới triều Nguyễn Gia Long cụ được hai lần sắc phong “Đương cảnh Thành hoàng Dực bảo trung hưng linh phù tôn thần” và Dương cảnh Thành hoàng Dực bảo trung hưng đôn ngưng tôn thần”

f. Trong phả chi Hữu Bị về cụ Doãn Thuần tức Đôn, con thứ hai cụ Doãn Kiều: tính thẳng thắn, thật thà, khoát đạt, không ưa xiểm nịnh ... Cụ làm lý trưởng sau làm chánh tổng tục gọi là cụ chánh trẻ, trước sau cụ làm việc trong 20 năm. Cụ được sắc phong hai lần, năm bẩy mươi tuổi lại được tặng Ngân Tiền... Cụ được dân làng rất kính nể. Làng ở cạnh sông Hồng nên có đê giữ nước. Hàng năm, đến mùa nước lớn thường hay có đê bị sạt, nước  ngoài đê ngấm vào làm lở phía chân đê bên trong. Cụ điều khiển rất giỏi chống trị được lũ lụt, từ quan tới dân ai cũng phục tài.

 



1 Chỉ việc ba lần quân Nguyên - Mông sang xâm lược bị quân ta đính bại. Phong kiến Trung Hoa trước thường cậy là nước lớn ăn hiếp nước bé, nếu bị đánh thua thì đổ tội cho nước bé.

1  Những hàm, tước... kể đây chỉ từ Trịnh Tráng về sau, cụ được phong tặng (từ khi còn sống đến khi chết đã lâu) nhiều lần để chứng tỏ sự nhớ ơn của con cháu chúa Trịnh.

1  Đỗ hội nguyên là đỗ đầu kỳ thi Hội

2 Đỗ Lềnh là chỗ cầu So, xã Cộng hoà, Quốc Oai ngày nay.

1  Nguyễn văn chữ nho là “Công thiểu dĩ văn chương ô thế. Thời nhân xưng vi Sĩ Củng cái dĩ dữ đồng huyện danh sĩ Ngô Tuấn Củng tề danh vân (Giao Thuỷ Kiên Lao nhân thời ngữ hữu văn: Tuấn Củng tuấn dị thiên hạvô nhị)”. Hợp phả in năm 1984 dịch “Lúc ít tuổi, cụ đã nổi tiếng văn chương. Người đời thường gọi là “Sĩ Cung”. Cùng với danh sĩ Ngô Tuấn là người cùng huyện ở Kiên Lao, Giao Thuỷ. Người đương thời có câu: “Tuấn Cung tuấn dị, thiên hạ không khai”. Dịch như lần trước e không đúng, nên xin dịch lại như trên.

2 Cụ Doãn Duệ có viết cuốn “Dã phu đình huấn” tập hợp các câu nói hay của nhà nho xưa để răn dạy con cháu (lời răn dạy của kẻ quê mùa).

3 Tích đức để cầu đất tốt, dạy con đọc sách.

    Bình luận       Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server In       Lên trên

 
Viết bình luận của bạn:

Tên:
Email:
Tiêu đề:
Bình luận:
 


Các tin khác:
HỢP PHẢ 1992 - PHẦN VII HỌ DOÃN NGÀY NAY (5)
HỢP PHẢ 1992 - PHẦN VII HỌ DOÃN NGÀY NAY (4)
HỢP PHẢ 1992 - PHẦN VII HỌ DOÃN NGÀY NAY (3)
HỢP PHẢ 1992 - PHẦN VII HỌ DOÃN NGÀY NAY (2)
HỢP PHẢ 1992 - PHẦN VII HỌ DOÃN NGÀY NAY (1)
HỢP PHẢ 1992 - C. CÂU ĐỐI MỚI
HỢP PHẢ 1992 - B. VĂN THƠ GẦN ĐÂY CỦA CHÁU CHẮT KÍNH DÂNG TIÊN TỔ (4)
HỢP PHẢ 1992 - B. VĂN THƠ GẦN ĐÂY CỦA CHÁU CHẮT KÍNH DÂNG TIÊN TỔ (3)
HỢP PHẢ 1992 - B. VĂN THƠ GẦN ĐÂY CỦA CHÁU CHẮT KÍNH DÂNG TIÊN TỔ (21)
HỢP PHẢ 1992 - B. VĂN THƠ GẦN ĐÂY CỦA CHÁU CHẮT KÍNH DÂNG TIÊN TỔ (1)



LÊN ĐẦU TRANG
VIDEO CLIP
 
  • Khánh thành tu tạo nhà thờ Sơn Đồng ngày 23/12/2012
  • Lễ Giỗ và khánh thành lăng mộ Tổ (Clip 2)
  • Clip hóa bát hương tại lễ khánh thành Lăng mộ Tổ 18/3/Nhâm Thìn
  • Lễ Giỗ và Khánh thành lăng mộ Tổ 18-19/3/Nhâm Thìn
  • ALBUM ẢNH
    DANH SÁCH CÔNG ĐỨC CỘNG 2 ĐỢT XÂY NHÀ THỜ CỔ ĐỊNH
    BÁO CÁO CỦA TRƯỞNG BLL (1)
    ThaiHung_Tuduong
    Ý KIẾN NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đề xuất một phương án xây dựng nhà thờ mới
  • THư của Doãn Thị Dương Tuyên (Bố Trạch - Quảng Bình)
  • Thư của Doãn Thị Hương
  • THÔNG TIN TÌM VIỆC
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần hỗ trợ học tập
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần tìm việc làm
  • HỖ TRỢ TN-SINH VIÊN
  • THƯ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM CHO NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đại lý bếp đun trấu không khói
  • Thông tin có thể hỗ trợ học tập và tìm việc làm
  • QUỸ KHUYẾN HỌC
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2014
  • THONG BAO VE KHUYEN HOC
  • Danh sách phát thưởng khuyến học dịp giỗ 1/3 Quý Tỵ tại An Duyên
  • Danh sách XD Quỹ Khuyến học năm 2011, 2012 và 2013
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2012 (đợt 3)
  • CÁCH SỐNG
  • Bàn về sự ấu trĩ
  • Chiến lược và cạnh tranh (Michael Porter)
  • Những điều răn của cổ nhân
  • Học làm người
  • Thành kiến
  • VIỆC HỌC & PP HỌC
  • Học như thế nào?
  • Trao học bổng Amcham 2012
  • Giới thiệu về một số phương pháp TƯ DUY
  • Phương pháp học tập và luyện thi hiệu quả
  • NGŨ TRI ĐƯỜNG
  • SÁCH & TÀI LIỆU HỌC
  • YẾU LƯỢC SỬ CA
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Chương2: Sóng Cơ
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Dao động điều hòa
  • Địa chỉ các website phục vụ việc học tập
  • HỘI NGHỊ 16-1-2010
  • Thư của ông Doãn Minh Tâm tại hội nghị 16/1/2010
  • Ảnh chụp tại hội nghị 16-1-2010
  • Phát biểu khai mạc Hội nghị
  • Phát biểu của đại điện Ban liên lạc dòng họ
  • Vài lời phân tích kết quả thi ĐH 2009 của con cháu họ Doãn
  • NGỤ NGÔN VÀ TRIẾT LÝ
  • Ngu công dời núi
  • Chim Hỉ Thước
  • Gia Cát Khổng Minh khuyên con
  • chữ NHẪN
  • Lời Phật dạy
  • CÂU LẠC BỘ THANH NIÊN
  • Thông báo về việc tạm hoãn hội nghị CLBTN họ Doãn
  • DIỄN ĐÀN MỚI CỦA THANH NIÊN HỌ DOÃN
  • Danh sách thành viên CLB (theo chi)
  • Tổ chức và Chương trình hoạt động
  • Danh sách thành viên CLB (theo Trường, tổ chức)
  • Thời tiết | Giá vàng | Giá ngoại tệ | Liên hệ | QUAY VỀ TRANG CHỦ

    Bản quyền thuộc Ban liên lạc Họ Doãn Việt Nam
    (Vui lòng ghi rõ nguồn tin nếu bạn sử dụng thông tin từ trang web này)