TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
TIN TỨC
SƠ ĐỒ DÒNG HỌ
BLOG
TÀI LIỆU
LIÊN HỆ
LỊCH SỬ & PHÁT TRIỂN
Khởi nguồn
Danh sách các chi họ
Các Chi tự giới thiệu
CÁC TỔ CHỨC HỌ DOÃN
Ban liên lạc toàn quốc
Ban liên lạc các chi, liên chi
Quỹ khuyến học
CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH
Kỷ niêm 100 năm hợp biên GP
Hội thảo Doãn Uẩn 30/6/11
Hướng dẫn hoạt động
Tư liệu hoạt động dòng họ
CÁC DI SẢN HỌ DOÃN
Nhà thờ, Hoành phi, Câu đối
Địa danh họ Doãn
Những tấm gương
Văn học nghệ thuật
Ảnh, video và Khác
HỌ DOÃN TRONG LỊCH SỬ
Danh nhân họ Doãn thời xưa
Lễ kỷ niệm Doãn Uẩn
Hội thảo Doãn Khuê
Nhân vật họ Doãn thời nay
ẤN PHẨM HỌ DOÃN
Hợp phả họ Doãn 1992
Kỷ yếu hội thảo TTQ Doãn Nỗ 1993
Biên soạn Hợp phả 2011
Kỷ yếu HỌ DOÃN VN 4/2011
Kỷ yếu KHÁNH THÀNH LĂNG MỘ TỔ & GIỖ TỔ 4/2012
Danh mục ấn phẩm người họ Doãn
THÔNG TIN KHÁC VỀ HỌ DOÃN
Những hoàn cảnh khó khăn
Tấm lòng người họ DOÃN
LIÊN KẾT WEBSITE
QUẢNG CÁO
THỐNG KÊ WEBSITE
Đang truy cập:
Yahoo Chat
Skype Chat

 

 

 

"CHÀO MỪNG BÀ CON TRONG DÒNG HỌ VÀ QUÝ KHÁCH ĐẾN THĂM WEBSITE HỌ DOÃN VIỆT NAM"
HOẠT ĐỘNG & Ý KIẾN CỦA CÁC CÁ NHÂN
Các câu chuyện về cụ Doãn Uẩn (phần 2)

TƯỚNG QUÂN VÀ HOA CÚC

 

                  Sinh thời tướng Doãn Uẩn có tâm hồn thi sỹ, nên có thú vui là chơi hoa cúc. Các hậu duệ của ông ở Song Lãng - Thái Bình kể rằng: Ông viết 192 bài thơ thì có 39 bài về hoa cúc. Ở nhà ông trồng cúc, dù công sở ở đâu ông cũng trồng cúc, mùa thu đến bạn bè đầy nhà cùng ông thưởng thức rượu cúc và ngắm nhìn vẻ đẹp, cùng tận hưởng mùi thơm riêng có của hoa cúc.

                  Ông yêu hoa cúc vì ông nhớ đến cha ông. Trông hồi ký ông kể rằng: Cha ta - một thầy giáo nghèo ở quê dạy chữ Nho cho học trò. Ông chịu khó tìm và mua sách, sách mua nhiều đến nỗi phải dùng dây đay xỏ vào từng tập rồi treo lên xà nhà cho gọn. Suốt ngày đêm ngoài giờ dạy học, ông miệt mài đọc sách đến nỗi mờ cả mắt. Trong nhà có lúc thiếu gạo ăn nhưng chưa bao giờ thiếu hao cúc khô để cho ông xông mắt.

                  Ông yêu hoa vì ông nhớ tới bạn lương hữu là các ông: Hồ Tấn Trai, Phạm Mai Xuyên, Ngô Dưỡng  Đình có lần cùng ngồi với ông thưởng thức hoa cúc, rượu cúc, thi nhau mỗi người làm 10 bài thơ tứ tuyệt tả về hoa cúc.

                  Ông yêu hoa cúc vì cho rằng hoa cúc cũng có số phận như người, có sống và có chết, có sinh có nở, có tươi có héo, có lúc trẻ và lúc già, có sung sướng và khổ đau, chỉ khác người là không nói được thôi. Theo thuyết ngũ hành mùa xuân là hành Thủy, hoa lan, hoa mai, hoa mận nở đẹp vào mùa xuân vì có sự trợ giúp của hành Thủy. Còn hoa cúc nở vào cuối thu đầu đông là hành Kim khắc nghiệt, vất vả gian lao thế mà cúc vẫn đẹp tươi. Ông cho rằng con người ta qua nhiều gian khổ, thử thách, tự mình khắc phục vượt qua thì cái vinh hoa, phú quý đạt được bao giờ cũng sáng đẹp, rực rỡ.

                  Cũng từ cái lẽ ấy của ông, ông thấy số phận của hoa cúc cũng giống như số phận của tổ tiên, ông cha và bản thân ông. Vì thế ông coi hoa cúc là biểu tượng đẹp cảu tổ tiên và bản thân mình. Hoa cúc vừa mang biểu tượng ấy đồng thời ông coi là người bạn tri kỷ, tri âm để tâm tình.

                  Ta hãy xem vài bài thơ về hoa cúc ông viết dưới đây để rõ hơn về tư tưởng, nhân cách và lẽ sống cảu tướng quân.

                  Bài 1:

                  Ta tính vui trồng cúc,

                  Mảnh vườn nhỏ trước nhà.

                  Thường trồng vài chục loại,

                  Thu đông cúc nở hoa.

                  Trắng vàng bông cao thấp,

                  Cúc đại đứng hàng đầu.

                 

                  Bài này tả ông đang vui trồng cúc để thu đông cúc nở hoa đẹp. Ông vui vì ông tình nguyện trồng cái đẹp cho đời, cũng là kỳ vọng noi gương sáng của tổ tiên (Cúc đại), vài chục thế hệ sau các hậu duệ con cháu ông theo gương cha ông để có nhiều người thành đạt, sáng ngời.

                  Bài 2:

                  Ví như ta muốn giữ mãi cho hoa không tàn,

                  Thì hết mùa hoa nở, ta chả còn cách gì giữ được.

                  Chỉ cõi lòng ta luôn ghi nhớ sự trinh bạch của cúc,

                  Chỉ cõi lòng ta luôn kính trọng hương ngát thơm của cúc.

 

                  Đây là bài thơ mang tính tự sự nói cho riêng mình. Hoa cúc nở, rồi hoa cúc tàn cũng là lẽ tự nhiên của trời, của con người. Song ý thơ còn ngụ ý nói bóng về sự biến thiên của lịch sử. Triều đại dù có thời huy hoàng, hưng thịnh, cũng có lúc suy tàn không thể cứu vãn nổi; chủ nghĩa nào cũng có cài thời của nó, chỉ có chủ nghĩa dân tộc chân chính mới có thể trường tồn được.

                  Dù thế nào ông cũng quyết giữ cái bản ngã - là cái tính trời cho mình: Nhân ái, trong trắng, ngay thẳng, để lại tiếng tốt tiêng thơm cho đời. Đó là đức tính và lối sống tốt cũng ví như hương hoa cúc lan tỏa ngát hương ông cần kính trọng; để rồi xa lánh như hủ lậu trong cuộc sống xã hội, giữ gìn cho được những đức tính ấy trong suốt cuộc đời.

                  Bài 3:

                  Ta không đắm mình vào "tiên cảnh" với những hồ sen ngát hương,

                  Lại có thói quen sửa mình như khóm trúc.

                  Nghĩ về phẩm giá còn tiềm ẩn của những người gần gũi với ta,

                  Là tư chất cố hữu khiến ta có thể hòa mình vào phong tục.

                  Giúp cho những người lao động còn kém còi hợp nhau mà làm nên,

                  Đó là niềm vui mừng chỉ cho công phu trồng cúc như thế.

 

                  Triều đình nhà Nguyễn đóng đo ở Huế là nơi có cung điện nguy nga, có hồ sen và có tới 24 bồng lai tiên cảnh. Đó là những công trình văn hóa đẹp để cho đời thưởng thức ngưỡng mộ. Là quan đại thần thời ấy ông cũng nhìn ở cung đình cũng còn nhiều cảnh trớ trêu, xa hoa, trụy lạc, gian thần trí trá xiểm nịnh, không mảy may thương xót tới cảnh bần hàn của nhân dân lao động. Chuyện kể rằng: Năm Canh Tý (1840), vua Minh Mệnh tròn 50 tuổi, sóng gió đình thần nổi lên ngay ngày trọng đại lễ hiến thọ của vua. Phe cánh gian nịnh chiếm đa số đình thần, lợi dụng cơ hội nhà vua 20 năm giữ ngai vàng, như cây cao đã hết tầm rồi, tha hồ đục nước béo cò, phô trương thanh thế để răn đe kẻ sau, mở đại lễ mừng thọ.

                  Sống đã điểm tuyết trên đầu, Doãn Uẩn coi đó là xa hoa tột độ ở cõi trần này, sự xa hoa khoái lạc ấy cõ lẽ chỉ có ở trên tiên cảnh. Trong hàng ngàn thứ đặc sắc xa hoa, nổi bật nhất là núi Thọ - 3 ngọn núi giả, mỗi ngọn núi thờ một vị thần Thọ. Sau núi tam phong, xa xa ẩn hiện trong bình minh là đàn Hạc kéo về. Hai còn rồng giáng bộ râu rồng là những chuỗi ngọc khuê lung linh rực sáng, là kim tinh tỏa mùi trầm ngây ngất Trong các hàng quan phủ tỉnh về dự đại lễ có viên Bố chánh Vương Hữu Quang mới ngoài 30 tuổi, người Quảng Nam vừa phải vượt cổng trời - đèo Hải Vân, không nhịn nổi cảnh xa hoa đã dâng sớ phản đối. Lập tức tai vạ ập xuống, phe cánh gian nịnh nhao nhao khép tội: “Loạn tặc”, “khi quân”. Có sớ dâng xin xử tội chém đầu, có sớ xin dâng đầy đi lao tù biệt xứ, lại có sớ đòi lột mũ áo, chức tước, phẩm hàm, cho đi thú trấn biên cương. Phe trung chính nhìn sâu vào im lặng, nhìn vua mà thấy cảnh như mưa gió đang muốn nhấn chìm tất cả giang sơn này.

                  Ông cũng nhủ rằng không được đắm mình vào những thói hư tật xấu ấy, phải thương xuyên sửa mình, nghĩa là phải sống trinh bạch, thẳng thắn, cứng rắn và dẻo dai như khóm trúc.       

                  Lòng nhân ái, thương người hòa đồng với người lao động ông gọi là những tố chất cố hữu ông cần phải giữ. Với ông người lao động gọi là kém cỏi kia, song họ có nhiều phẩm giá tốt tiềm ẩn cần phải trân trọng, phải giúp đỡ để họ làm nên sự nghiệp. Làm được như vậy ông cho đó là niềm vui mừng, cũng như vui mừng như nhìn thấy vườn cúc tốt tươi, hoa đẹp mà ông đã ngày đêm dầy công chăm bón. Ông thật xứng đáng với lời khen của vua Triệu Trị trong bản Cáo đạo sắc phong Tuy Tĩnh Tử, Binh bộ thượng thu, An Tây mưu lược tướng Doãn Uẩn: “ Làm quan đại thần mà sống trong lòng dân, biết thu hút dân, xếp đặt bày vẽ cho nhân dân

                 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

TRẬN THẮNG MANG ĐẾN HÒA BÌNH VÀ HỮU NGHỊ

 

I/. Diễn biến tình hình chung

                  Mặc dù có lời di huấn của vua cha (Minh Mệnh): “Phải cẩn thận, chớ nên gây hấn ngoài biên”, và sớ của Thượng thư bộ binh Nguyễn Tường Vân trong di biểu trước khi ông chết năm Canh Thìn 1820 rằng: “Đến như nước Xiêm La, nếu có lỗi nhỏ cũng cần bỏ qua để cùng nhau làm đạo lớn, thì không những là báo nghĩa Tiên để dừng chân ở đấy mấy năm, mà còn tránh được nỗi lo trăm đời của năm kẻ bề tôi lớn ở ngoài biên”. Song năm 1835 Minh Mệnh vẫn đưa quân tiến sang Nam Vang (Phnom Pênh) bắt vua Chân Lạp là Nạc Ông Chân đổi Chân Lạp thành Trấn Tây để triều Nguyễn cai quản. Trấn Tây khi ấy là vùng đất rộng từ biên giới Tây nam bộ Việt Nam sát đến Nam Vang, phía đông nam sát tới Biển hồ.

                  Việc làm ấy của vua Minh Mệnh đúng hay sai lịch sử sẽ làm rõ ràng hơn. Song suốt năm 1835 đến 1840, từ khi chiếm trấn tây, rồi xây thành trấn tây triều đình Nguyễn phải năm lần thay tổng đốc và luôn luôn bất ổn, sự bất ổn ấy còn lan tới Trà Vinh, Sóc Trăng, Thất Sơn, Vĩnh Tế của nước ta. Nạn cướp bóc, bạo loạn, xâm lấn đất đai, các cuộc chiến về sắc tộc tôn giáo làm nhân dân Tây Nam bộ và cả nhân dân nước bạn khốn cùng, làng xóm sơ xác, tiêu điều, lòng dân ai oán.

                  Trước tình hình ấy Doãn Uẩn cùng với Tham tán Trương Minh Giảng, Hiệp tán Cao Hữu Dực bàn bạc đối phó nhưng vẫn còn e ngại nhiều về ổn định tình hình. Được Nguyễn Tri Phương, Doãn Uẩn đồng tình, tướng Tạ Quang Cự đề đạt xin vua Thiệu Trị bỏ thành Trấn Tây để lo tình hình ổn định ở Tây Nam bộ (vua Minh Mệnh mất tháng 12/1840, vua Thiệu Trị thay đầu năm 1841). Tháng 9/1841 Thiệu Trị chuẩn y đề nghị của Tạ Quang Cự. Lệnh truyền cho Trương Minh Giảng tổng đốc Trấn tây lúc ấy rút quân về nước, nhưng tới An Giang Trương Minh Giảng chết. Cái chết ấy được sách “Việt Nam sử lược” giải thích: “Bởi vì việc kinh lý nước Chân Lạp là ở tay ông cả, nay vì có biến loạn, quan quân phải bỏ chạy thành Trấn tây mà về, ông nghĩ xấu hổ và buồn bực đến nỗi thành bệnh mà chết.”

                  Lợi dụng tình hình vua Minh Mệnh và mất vua Thiệu Trị mới nên thay lại cho rút quân khỏi thành Trấn tây, quân Xiêm đưa Nạc Ông Đôn về Nam Vang lên ngôi vua Chân Lạp; Phi Nhã Chất tướng Xiêm chuẩn bị dẫn quân sang đánh phục thù.

 

II/. Diễn biến chiến đấu năm Nhâm Dần 1842

                  Tháng giêng chiến thuyền và vài vạn quân Xiêm chiếm đảo Phú Quốc, chiếm Sách Sô (đất Trấn Tây), đổ bộ lên Hà Tiên và một số nơi thuộc lưu vực sông Tiền sông Hậu ở An Giang và Kiến Giang.

                  Tướng Nguyễn Tri Phương tâu về triều đình Huế: “Mất sông Tiền, sông Hậu là mất An Giang, Vĩnh Long, Định Tường. Ta phải phòng bị cẩn mật ở đồi Thông Bình (Tuyên Bình) Hùng Ngự (Hồng Ngự), Tân Châu, An Lạc”.

                  Trước tình hình ấy, triều đình Huế điều động tướng, chiến thuyền, lấy quân sỹ từ Quảng Nam, Quảng Ngãi đưa vào chiến trường chính.

                  Tướng Lê Văn Đức đưa quân đến Bẩy Núi (An Giang) hợp với quân Tổng đốc An Hà là Phạm Văn Điển ở khu vực Núi Cấm.

                  Tướng Lê Văn Đức và Lê Xuân Phú tiến quân đến núi tượng, quân Xiêm và gián điệp của Xiêm ở đó bỏ chạy. Lê Văn Đức dẫn quân tiến đến Xà Tón (Tri Tôn, Anh Giang), hợp với quan của Tán lý Tôn Thất Tường, rồi chia làm 5 đạo, mỗi đạo 1.000 quân, đem súng lớn, thuyền chiến phá tan một lúc được 7 đồn lớn ở kinh Vĩnh Tế; đánh địch ở núi Cô Tô, giải phóng đảo Phúc Quốc, bắt và làm bị thương rất đông, đuổi hoàn toàn quân Xiêm ra khỏi Tây nam bộ nước ta.

                  Đây là trận chiến thắng lớn, song vẫn chưa đập tan được âm mưu xâm lược của Xiêm.

                 

III/. Chiến dịch phản công của quân nhà Nguyễn đối với quân Xiêm trên đất Chân Lạp, năm 1845.

                  Theo “Việt Nam sử lược” và hồi ký của tướng Doãn Uẩn cho biết: Với mộng từ lâu chiếm đất Chân Lạp làm bàn đạp xâm chiếm Nam Bộ nước ta, lần này Xiêm đã dốc hết lực lượng để thực hiện chiến lược ấy.

                  Tháng 5/1845 Xiêm đổ bộ vào Chân Lạp (đất Trấn tây). Năm đạo quân chính quy cùng bộ chỉ huy tiền phương đóng ở Nam Vang. Phối hợp với tù trưởng Cao Man gia sức vơ vét sức người, sức của xây dựng quân đội Man Tù 10 ngàn tên. Thiết lập 3 cứ điểm trong một tập đoàn bọc lót chi viện cho nhau là: Chi Đam, Vịnh Bích, Sách Sô. Chi Đam, Sách Sô là tuyến 1 (vòng ngoài), Vịnh Bích là tuyến 2 (giữa) vừa là vị trí trung chuyển, vừa là tuyến cố thủ có chiến lũy hàng ngàn trượng bao quanh, vòng ngoài căn cứ Sách Sô là đầm lầy bất khả xâm phạm. Tuyến 3 gồm 2 đạo quân trợ chiến cùng bộ chỉ huy đóng ở thành Ô Đông thuộc Nam Vang, một đầu mối quan trọng nối liền với Xiêm La.

                  Sồng còn của năm đạo quân chính quy cùng 10 ngàn quân Man Tù, là căn cứ hậu cần dã chiến lớn nằm ở hữu ngạn sông Mê Công (có phần đất nhô ra sông). Để bảo vệ các kho tàng bến bãi ở đây, 2 đầu căn cứ có lưới sắt chặn ngang sông từ hai phía trên dưới. Vì thế căn cứ này còn có tên là đồn Lưới Sắt, chữ là Thiết Thằng.

                  Về phía triều đình Huế nhận định rằng: Âm mưu xâm lược Chân lạp và Nam bộ nước ta của Xiêm đã rõ. Ta đã nhiều lần thắng chúng nhưng chưa đánh bại được ý đồ xâm lược của Xiêm, sự ổn định ở Nam Bộ mới chỉ là tạm thời, về lâu dài biên giới khó có thể giữ yên. Phải dồn lực sức đánh một trận lớn để diệt trừ tận gốc âm mưu xâm lược của Xiêm.

                  Tháng 7/1845, nhân việc quân Xiêm giở trò tàn bạo làm dân Chân Lạp bất bình, nội bộ Xiêm Lạp lục đục, vua Chân Lạp cho người ngầm báo cáo với triều đình Huế xin giúp đỡ.

                  Trong Đế mệnh xuất quân, vua Thiệu Trị giao cho “Tuần phủ An Giang Doãn Uẩn trực tiếp cầm quân tiêu chinh mở đường; tổng đốc An Giang Nguyễn Tri Phương hội đồng cùng Nguyễn Văn Giai, Lê Văn Phú; các Đốc thần, Đề đốc An Giang, Vĩnh Long Nguyễn Văn Hoàng, Tôn Thất Nghị chia từng cánh quân, xếp theo thứ tự mà đợi đến lượt xuất kích trợ chiến”.

                  Nhà vua dặn đi dặn lại các tướng: Trong lúc chờ xuất kích cũng như trong tiến đánh luôn kiệm phiếu phủ (phủ dụ dân chúng), tố cáo tội ác của giặc, tổ chức dân chúng đứng lên cùng giải phóng.

                  Sáng sớm ngày 6/8, đội quân Đặc thước tiên chinh do Tuần phủ Doãn Uẩn chỉ huy từ đồn Ba Mi bắt đầu xuất kích. Khi xuất kích ông có viết bài thơ:

 

Binh tiến Tiền Giang đạo

                  Cảnh vật mùa thu còn chìm trong sa mù

                  Dòng sông tháng tám như dậy sóng,

Bởi gió nhẹ căng buồm, cùng những mái chèo đẩy hàng trăm con thuyền binh xé nước lao đi.

                  Mặt trời lên, ánh bình minh chiếu rọi, cờ mao phấp phới.

                  Nước dâng trào vỗ vào bờ, phát ra những tiếng sóng dồn dập lan xa.

                  Ba quân thừa trí dũng, võ thuật khí phách cao.

                  Một hiệu lệnh, sào huyệt giặc nào cũng chỉ bằng không.

 

                  Đêm 7/8, cùng lúc 2 cứ điểm Sách Sô và Chi Đam bất ngờ bị tiến đánh. Đây là hai cứ điểm bọc lót mạn đông nam cho căn cứ hậu cần chiến lược Thiết Thằng ở hữu ngạn sông Tiền Giang. Bằng võ thuật biền binh, lực lượng đặc biệt tinh nhuệ do Doãn Uẩn đào tạo, tổ chức đột nhập diệt gọn chỉ huy đồn và rút ra anh toàn.

                  Sáng 8/8 quân lính ở Sách Sô và Chi Đam kêu cứu. Quân cứu viện không dám mạo hiểm, chỉ cho vài trăm tên từ Vịnh Bích đi xuống. Chưa đến nơi đã bị quân trợ chiến ta do tổng đốc Nguyễn Tri Phương chỉ huy phục kích diệt gọn. Chỉ mấy quả pháo nã vào đồn, quân lính ở hai đồn trên vội vã đem xác chỉ huy và đồng đội tháo chạy về căn cứ Vịnh Bích. Từ đó về sau hai cứ điểm bọc lót Thiết Thằng để bỏ trống.

                  Ngày 12/8 các cánh quân trợ chiến ta tổ chức bao vay uy hiếp căn cứ Vịnh Bích, nơi bại binh ở Sách Sô, Chi Đam vừa dồn về. Địch vô cùng hoang mang khiếp đảm.

                  Ngày 14/8, tin Vịnh Bích - cả chiến lũy ngàn trượng đã bị bao vây gây trấn động cả Nam Vang và Trấn thành Ô Đông.

                  Suốt 10 ngày liền Vịnh Bích cầu cứu, đến ngày 26/8, tổng chỉ huy quân Xiêm ở Nam Vang buộc Ô Đông phải tung 5.000 quân chính quy, dùng chiến thuật trong đánh ra ngoài đánh vào không cho quân Nguyễn chạy thoát. Nhưng 5.000 quân chi viện chưa đi được nửa đường đã bị phục kích, chia cắt thành nhiều mảnh, bị đánh tan nát phải tháo chạy về Ô Đông, quân cố thủ Vịnh Bích cũng đạp lên nhau mà chạy theo. Trấn thành Ô Đông thành cái túi chứa hàng vạn lính bại trận.

                  Giải quyết xong 3 cứ điểm then chốt: Sách Sô, Chi Đam, Vịnh Bích, khâm sai đại thần từ Huế tới mang chỉ dụ: “Thừa thắng đánh ngay căn cứ Thiết Thằng, chia đường thủy đường bộ tiến lên. Trước hết kiên quyết đánh đồn Thiết Thằng, nếu sau khi đánh đồn này mà Nam Vang chấn động thì ta nên rút ra xa không nên cố thủ, củng cố thế lực cho tốt. Chưa tiện vào sâu thì cứ án binh, đoạn tuyệt thông chú mọi việc đều phải thảo phi chương vào tâu trình để tuân hành theo chỉ dụ”.

                  Tiếp chỉ Khâm sai đại thần, Nguyễn Tri Phương và Doãn Uẩn đều bị ốm đành phải tâu trình cho quân sỹ tạm nghỉ ngơi đợi sau tuân hành.

                  Người lập văn biểu Nguyễn Văn Chương cùng tuần phủ Doãn Uẩn có sớ tâu về triều: Công việc tiễu trừ liên tiếp toàn thắng 3 cứ điểm then chốt, khiến uy danh quân Nguyễn chấn động toàn bộ. Hiện đang phân đạo chuẩn bị đánh vào đồn Thiết Thằng theo ý chỉ của quan lớn do triều đình phái đến. Hẹn khi nào có gió đông bắc thì chuẩn bị đón tin chiến thắng.

                  Ngày 12/9 bắt đầu có gió mùa đông bắc. Phân đạo tả ngạn Tiền Giang đã kéo pháo đến ngang căn cứ Thiết Thằng ở mé hữu ngạn. Phân đạo trợ chiến tại phía thượng nguồn có sự tham gia của hàng trăm thổ dân, thổ mục hỗ trợ, đã cưa cây, chặt cành để sẵn trong rừng. Nửa đêm gió mùa đông bắc thổi mạnh dần. Cành cây từ từ được đem thả xuống sông. Chốc lát, lưỡi chão sắt giữ cành cây lại tạo thành đập ngăn nước. Nước dâng lên một lúc một cao, kho tàng bến bãi ở Thiết Thằng bị ngập lụt. Quân địch trong căn cứ rục rịch di chuyển kho tàng. Đây là lúc pháo của ta từ tả ngạn bắn dồn dập sang đồn. Pháo vừa dứt, quân Đặc thước của ta đã xuất hiện bất ngờ tiêu diệt hơn 600 quân Xiêm Lạp, thu thuyền bè, súng ống đạn dược nhiều vô kể.

                  Sáng 14/9, Doãn Uẩn cùng tổng đốc Nguyễn Tri Phương cầm quân, chia thành hai mũi gọng kìm tiến vào Nam Vang. Quân ta vào Nam Vang như về nhà, giặc không ngờ ta lại tiến vào mau lẹ và sâu đến thế, phải nhanh chóng chạy bỏ sang trấn thành Ô Đông, đốc thúc quân sỹ ra sức củng cố trận địa, quyết giữ lấy chỗ đứng chân mà xung quanh là cả một vành đai đồn bảo bọc lốt.

                  Ngày 16/9, 2 cánh quân tả hữu do Nguyễn Đăng Giai, Lê Văn Phú đã khép chặt vòng vây ở trấn thành Ô Đông. Tuần phủ Doãn Uẩn và Nguyễn tri Phương cầm quân đồng loạt tiến đánh, lần lượt hạ trên ba chục đồn bảo bọc lốt thành Ô Đông. Tiếng súng nổ liền cả ngày đêm, một ngày đánh tới 30 nơi. Từ trước tới nay chưa có trận nào ác liệt như thế.

                  Tiếng súng vừa dứt, sáng 18/9 quân Đặc thước ta đã đàng hoàng mang cờ mao và dụ hàng vào trấn thành Ô Đông, yêu cầu tướng Xiêm và tù trưởng Chân Lạp cho lính dàn ra tiếp đại quân ta do tướng Nguyễn Tri Phương và tướng mang Đế mệnh là Doãn Uẩn mặc áo nhung xanh có thuê: “Đoàn long bát bảo” tiến vào.

                  Lệnh bãi binh ban bố. Sau 3 ngày thu dọn chiến trường, hai bên trở lại Nam Vang cùng vua Chân Lạp, tù trưởng, ký điều ước vĩnh viễn không xâm lược bờ cõi của nhau. Xiêm - Việt - Cao Man giữ mãi tình nghĩa láng giềng thân thiện.

                  Hàng vạn dân chúng, sư sãi mang cờ hoa kéo về Ô Đông chào mừng hòa bình. Quân Man Tù lũ lượt bỏ súng, cởi quần áo lính chất thành đống mà về nhà, quân Xiêm hớn hở trước ân uy của ta sắp được trở về nước. Cờ Phật, cờ Chân Lạp rợp đất Cao Man, khắp nơi chùa chiền và phun sóc vang lên lời ca tiếng hát và những điệu múa chữ tình.

                  Sau trận này Nguyễn Tri Phương chốt lại ở thành Trấn Tây để giám sát Xiêm và Chân Lạp thực hiện hòa ước đã ký. Doãn Uẩn về An Giang. Trước nhà tuần phủ Doãn Uẩn không biết ai đó nói ông chỉ mong mỏi quy thú về với vườn cúc nhà. Nghe được, có thổ mục quen cũ đem đến cho vài ba nhánh cúc ông đêm trồng lẫn với vài thứ hoa có ở rừng thành một bồn hoa.

                  Trận đánh đã hoàn toàn thắng lợi, thắng lợi đó mang tính chiến lược: Đánh bại được âm mưu xâm lược mang đến hòa bình và hữu nghị.

                  Trận đánh làm ta nhớ đến dư âm của hào khí Đông A thủa trước (đời Trần) và đại thắng mùa xuân năm 1975 đánh cho Mỹ cút, đánh cho Ngụy nhào giải phóng hoàn toàn Miền Nam, thống nhất Việt Nam. Hùng khí ấy có được bởi sự đồng lòng tin tưởng vào thắng lợi của quân và dân Việt; bởi tài năng của tướng; của nhiều cách đánh hay để rồi tạo nên thế trận thừa thắng xông lên áp đảo quân thù.

                  Trận đánh này hay còn gọi là chiến dịch quân sự là thể hiện biết địch biết ta, biết mở đầu và biết kết thúc ở đâu; lúc đánh một đồn, lúc đánh hàng chục đồn; khi tiến công, khi vây ép, khi kết hợp vây ép với tiêu diệt viện binh, khi dùng đặc công, khi dùng chiến thuyền và pháo; coi trọng tác chiến quân sự với tác chiến về tinh thần làm cho quân địch hoang mang hoảng sợ thành thế dây truyền Tất cả những biện pháp trên đã tạo nên một nghệ thuật quân sự của các tướng Việt Nam thời ấy.

                  Trận đánh này do Doãn Uẩn là tổng chi huy, ông đã thể hiện là một con người họ Doãn ưu tú, tài năng mưu lược trờ thành danh nhân, danh thần đất Việt.

                  Nếu trận đánh ấy là hay thì nên lập thành một chiến lệ để truyền mãi cho các thế hệ trẻ người Việt hiện nay và mai sau.

 Các câu chuyện về cụ Doãn Uẩn (phần 1)

 


    Comments (0)       Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server In       Lên trên

Viết bình luận của bạn:

Tên:
Email:
Tiêu đề:
Bình luận:
 





Template khác:
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Các câu chuyện về cụ Doãn Uẩn (phần 1)
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Đình Cao mở Ngọc phả
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Cảm nhận về : Lễ kỷ niệm 100 năm Hợp biên Gia phả họ Doãn tổ chức tại Đình Cao
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server CHI HỌ DOÃN ĐÌNH CAO CHÀO MỪNG LỄ KỶ NIỆM 100 NĂM “ HỢP BIÊN GIA PHẢ” HỌ DOÃN
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server ẤN TƯỢNG ĐÌNH CAO
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Một số suy nghĩ về dòng họ và hoạt động của Ban Liên lạc họ Doãn
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Đọc Hợp phả (Kính dâng Tiên Tổ Doãn tộc)
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Câu đối
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server SUY NGẪM VỀ GIÁ TRỊ VĂN HIẾN CỦA HỌ NHÀ
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server NỐT XUÂN - Bài thơ về danh nhân Doãn Uẩn

VIDEO CLIP
 
  • Khánh thành tu tạo nhà thờ Sơn Đồng ngày 23/12/2012
  • Lễ Giỗ và khánh thành lăng mộ Tổ (Clip 2)
  • Clip hóa bát hương tại lễ khánh thành Lăng mộ Tổ 18/3/Nhâm Thìn
  • Lễ Giỗ và Khánh thành lăng mộ Tổ 18-19/3/Nhâm Thìn
  • ALBUM ẢNH
    DANH SÁCH CÔNG ĐỨC CỘNG 2 ĐỢT XÂY NHÀ THỜ CỔ ĐỊNH
    BÁO CÁO CỦA TRƯỞNG BLL (1)
    ThaiHung_Tuduong
    Ý KIẾN NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đề xuất một phương án xây dựng nhà thờ mới
  • THư của Doãn Thị Dương Tuyên (Bố Trạch - Quảng Bình)
  • Thư của Doãn Thị Hương
  • THÔNG TIN TÌM VIỆC
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần hỗ trợ học tập
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần tìm việc làm
  • HỖ TRỢ TN-SINH VIÊN
  • THƯ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM CHO NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đại lý bếp đun trấu không khói
  • Thông tin có thể hỗ trợ học tập và tìm việc làm
  • QUỸ KHUYẾN HỌC
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2014
  • THONG BAO VE KHUYEN HOC
  • Danh sách phát thưởng khuyến học dịp giỗ 1/3 Quý Tỵ tại An Duyên
  • Danh sách XD Quỹ Khuyến học năm 2011, 2012 và 2013
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2012 (đợt 3)
  • CÁCH SỐNG
  • Bàn về sự ấu trĩ
  • Chiến lược và cạnh tranh (Michael Porter)
  • Những điều răn của cổ nhân
  • Học làm người
  • Thành kiến
  • VIỆC HỌC & PP HỌC
  • Học như thế nào?
  • Trao học bổng Amcham 2012
  • Giới thiệu về một số phương pháp TƯ DUY
  • Phương pháp học tập và luyện thi hiệu quả
  • NGŨ TRI ĐƯỜNG
  • SÁCH & TÀI LIỆU HỌC
  • YẾU LƯỢC SỬ CA
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Chương2: Sóng Cơ
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Dao động điều hòa
  • Địa chỉ các website phục vụ việc học tập
  • HỘI NGHỊ 16-1-2010
  • Thư của ông Doãn Minh Tâm tại hội nghị 16/1/2010
  • Ảnh chụp tại hội nghị 16-1-2010
  • Phát biểu khai mạc Hội nghị
  • Phát biểu của đại điện Ban liên lạc dòng họ
  • Vài lời phân tích kết quả thi ĐH 2009 của con cháu họ Doãn
  • NGỤ NGÔN VÀ TRIẾT LÝ
  • Ngu công dời núi
  • Chim Hỉ Thước
  • Gia Cát Khổng Minh khuyên con
  • chữ NHẪN
  • Lời Phật dạy
  • CÂU LẠC BỘ THANH NIÊN
  • Thông báo về việc tạm hoãn hội nghị CLBTN họ Doãn
  • DIỄN ĐÀN MỚI CỦA THANH NIÊN HỌ DOÃN
  • Danh sách thành viên CLB (theo chi)
  • Tổ chức và Chương trình hoạt động
  • Danh sách thành viên CLB (theo Trường, tổ chức)
  • Thời tiết | Giá vàng | Giá ngoại tệ | Liên hệ | QUAY VỀ TRANG CHỦ

    Bản quyền thuộc Ban liên lạc Họ Doãn Việt Nam
    (Vui lòng ghi rõ nguồn tin nếu bạn sử dụng thông tin từ trang web này)