TRANG CHỦ
GIỚI THIỆU
TIN TỨC
SƠ ĐỒ DÒNG HỌ
BLOG
TÀI LIỆU
LIÊN HỆ
LỊCH SỬ & PHÁT TRIỂN
Khởi nguồn
Danh sách các chi họ
Các Chi tự giới thiệu
CÁC TỔ CHỨC HỌ DOÃN
Ban liên lạc toàn quốc
Ban liên lạc các chi, liên chi
Quỹ khuyến học
CÁC HOẠT ĐỘNG CHÍNH
Kỷ niêm 100 năm hợp biên GP
Hội thảo Doãn Uẩn 30/6/11
Hướng dẫn hoạt động
Tư liệu hoạt động dòng họ
CÁC DI SẢN HỌ DOÃN
Nhà thờ, Hoành phi, Câu đối
Địa danh họ Doãn
Những tấm gương
Văn học nghệ thuật
Ảnh, video và Khác
HỌ DOÃN TRONG LỊCH SỬ
Danh nhân họ Doãn thời xưa
Lễ kỷ niệm Doãn Uẩn
Hội thảo Doãn Khuê
Nhân vật họ Doãn thời nay
ẤN PHẨM HỌ DOÃN
Hợp phả họ Doãn 1992
Kỷ yếu hội thảo TTQ Doãn Nỗ 1993
Biên soạn Hợp phả 2011
Kỷ yếu HỌ DOÃN VN 4/2011
Kỷ yếu KHÁNH THÀNH LĂNG MỘ TỔ & GIỖ TỔ 4/2012
Danh mục ấn phẩm người họ Doãn
THÔNG TIN KHÁC VỀ HỌ DOÃN
Những hoàn cảnh khó khăn
Tấm lòng người họ DOÃN
LIÊN KẾT WEBSITE
QUẢNG CÁO
THỐNG KÊ WEBSITE
Đang truy cập:
Yahoo Chat
Skype Chat

 

 

 

"CHÀO MỪNG BÀ CON TRONG DÒNG HỌ VÀ QUÝ KHÁCH ĐẾN THĂM WEBSITE HỌ DOÃN VIỆT NAM"
BIÊN SOẠN HỢP PHẢ
Gia phả chi Cổ Định

 ,

 

 

 

 

                                    GIA PHẢ CHI  CỔ ĐỊNH

 

Địa danh Cổ Định

 

             Làng Cổ Định thuộc xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa, một vùng quê nổi tiếng Văn vật “ Quan thì Cổ Định, Cổ đôi….” Một địa danh gắn liền với tiềm thức của người họ Doãn: núi Nưa, sông Lãn thủy.

            Dư địa chí của Ngô gia Văn phái, nói về phong thổ và con người Nông Cống viết :” Nông cống tiền Triều có 28 vị đỗ đại khoa…” thì riêng làng Cổ định có 16 vị, trong đó có 3 vị người họ Doãn đỗ Tiến sĩ.

            Theo các tư liệu lịch sử, làng Cổ định đã hình thành và phát triển trên 1000 năm. Thời Hùng Vương có tên là Chạ Kẻ Nưa, đến thời  thuộc Hán có tên là Cá Ná giáp, Thời Tùy-Đường sử sách ghi là Cá Na giáp, đến thời Lý-Trần đổi thành Hương Cổ Na, đến thời Lê Thái Tổ đổi thành Cổ Ninh, thời Lê trung hưng đổi thành Làng Cổ định, sau năm 1945 hợp với các thôn khác thành xã Tân Ninh.

            Họ Doãn là một trong 8 dòng họ đầu tiên khai phá và dựng nên Chạ Kẻ Nưa, Văn tế Thánh Nghè Giáp của làng, có đoạn viết   “ …Sơ cánh khai phá

                                                            Thập vị Tiên công

                                                            Lê, Hứa, Nguyễn, Hoàng,

                                                            Doãn, Phan, Ngô, Trịnh.

                                                            Viễn sơn nhi định,

                                                            Cận thủy tất tành.

                                                            Thế thế quảng canh,

                                                            Niên niên đại chúng”

            Đây cũng là địa danh lâu đời nhất tại Việt nam có người họ Doãn sinh sống, được mọi người thừa nhận là đất Tổ chung của Họ Doãn Việt Nam.

            Tại Cổ Định còn giữ được ngôi mộ cụ Khởi Tổ họ Doãn đặt tại Đồn Hầu, Theo Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu: chữ Đồn có nghĩa là Đống Đất. Tương truyền: đồn Hầu có nghĩa là nơi đặt để phần mộ của những người làm quan được phong tới tước Hầu, Ngày nay do cải tạo đổng ruộng, cảnh quan khu mộ Tổ đã thay đổi, nhưng theo các cụ truyền lại: Đất phần Mộ Tổ có tượng hình cờ thế biến, nên con cháu họ Doãn nói chung thường di đi nhiều nơi, rất ít người ở lại quê hương, cho đến ngày nay vẫn thường biến động như thế.

            Ghi chép  từ đời Trần về trước không được đầy đủ, dòng họ Doãn chỉ biết được một phần  lịch sử dòng họ thông qua chính sử: Từ thời Lý họ ta đã có cụ Doãn Anh Khái, năm Canh Tuất -1130 đi Sứ sang Tống, năm Giáp thân-1164 thời vua Lý Anh Tông có cụ Doãn Tử Tư cũng đi sứ Trung hoa, đến đời vua Trần Minh Tông có cụ Doãn Băng Hiến đi sứ sang nhà Minh,  đời vua Trần Dụ Tông có cụ Doãn Thuấn Thuần (*) cũng đi Sứ Trung hoa.

 

            Mãi đến cuối đời Trần, chi họ Doãn Cổ định nói riêng, họ Doãn Việt Nam nói chung mới có ghi chép lại từ cụ Doãn Đăng Hòa là Thượng thượng Tổ  trở về sau.

 

 

            (*) Thông tin tham khảoGiáo sư Sử học Đinh Xuân Lâm khi nói về dòng họ Doãn Việt Nam có nói Họ Doãn là một dòng họ Văn Hiến. Để hiểu thêm về hai chữ Văn hiến, Ngữ nghĩa và nguồn gốc của nó, chúng tôi nêu mấy ý như sau:

            Chữ Văn trong Hán Việt có nghĩa là có Điển tịch, có Sách vở, có Nghi lễ.

            Chữ Hiến có 2 nghĩa: có người Tài, và nghĩa được giới thiệu, được làm rõ.

            Khổng Tử nói : Quốc gia có nền Văn minh, có được Lễ nghi quy củ, có được người Tài là Quốc gia Văn Hiến.

            Chữ Văn Hiến xuất hiện đầu tiên trong một văn bản nước ta là câu “Duy ngã Đại Việt chi quốc, thực vi Văn Hiến chi bang ” trong Bình Ngô Đại cáo của Nguyễn Trãi. Từ Nguyễn Trãi, đến Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú đều viết : Việt Nam Văn hiến chi bang, coi việc viết sách để lại là Văn hiến

            Nhưng trước đó chữ Văn hiến được sử dụng ở Việt nam có từ thời nhà Trần liên quan trực tiếp đến con người và dòng họ Doãn Việt Nam. Cụ thể: Khi Minh Thái Tổ lên ngôi, sai Dịch Tế Dân sang thông hiếu với nước ta, vua Trần Dụ Tông sai cụ Doãn Thuấn Thuần sang Sứ đáp lễ, đoàn Sứ thần Việt nam giữ gìn Lễ nghĩa phép tắc theo điển lệ nhà Chu, trang phục giữ được bản sắc người Việt, không bị ảnh hưởng bởi phép tắc và trang phục Nguyên-Mông ( trong khi phái đoàn Sứ thần Triều Tiên lại mang ảnh hưởng của Nguyên-Mông,) Vua Minh Thái Tổ khen ngợi cụ Doãn Thuấn Thuần và phái đoàn Đại Việt là “ Văn Hiến chi bang ” , xếp Sứ thần Đại Việt cao hơn Sứ thần Triều Tiên 3 cấp, và ban cho Sứ đoàn 4 câu thơ :

                                    “ An Nam tế hữu Trần,

                                      Phong tục bất Nguyên nhân.

                                      Y, Quan,  Chu lễ độ,

                                      Lễ nhạc, Tống quân thần .” 

(Dịch là: Nước An Nam có họ Trần, phong tục không theo nhà Nguyên, mũ áo vẫn theo chế độ nhà Chu, Lễ nhạc vẫn như vua tôi nhà Tống.)

 

Phần trên có thể viết ở đây hoặc tách ra viết vào phần giới thiệu chung hoặc phần ghi chú cũng được

 

 

 Chi họ Doãn  thôn Cổ định xã Tân Ninh

                                               

I-                     Thượng thượng tổ:  cụ Doãn Đăng Hòa

Cụ Doãn Đăng Hòa (không rõ năm sinh, năm mất), làm quan đến chức Hàn lâm viện Biện tu ở Quốc sử quán. Á thất là Nguyễn Thị Uyển, sinh ra cụ Doãn Băng Hài

 

I1- Thượng thủy tổ : cụ Doãn Băng Hài tự Mai hiên, thụy Trí Luân, con cụ Doãn Đăng Hòa, sinh năm 1272 mất ngày 12-10 năm Nhâm thân 1332 thọ 61 tuổi, phụ táng  cạnh mộ Tổ ở Đồn Hầu.  Năm 22 tuổi thi hương trúng Tứ trường,  năm Giáp Thìn (1304) thời vua Trần Anh Tông, năm Hưng long thứ 12, thi Hội đỗ đồng Tiến sỹ cập đệ thứ 8, bắt đầu quan nghiệp từ chức Hàn lâm hiệu lý, năm 1312 được thăng Tả Thị lang bộ Hình, năm 1314 triều vua Trần Minh Tông được thăng Thượng thư Bộ Hình, đặc phong hàm Thiếu Bảo. Năm Nhâm Tuất (1322) cụ được cử làm Chánh sứ sang Nguyên, sau đợt đi sứ cụ được phong Thiếu phó, tước Hương Đình Hầu thưởng ruộng đất 100 mẫu tại huyện Đông Ngàn. Cụ bà mất ngày 7-11 năm Canh Thìn 1340, phần mộ tại xứ đồng Đình trong xã, cụ sinh 2 con trai Doãn Định, Doãn Hoằng, cụ Doãn Hoằng đưa gia quyến đến Đông ngàn thành lập trang ấp mới của người họ Doãn ( xem phần chi Doãn Xá)

                    

            Trong Cựu phả chi Cổ định, phần viết về cụ Băng Hài  như sau :

 

“Núi Nưa sông Lãn tiết Thanh cao

Cụ Doãn Băng Hài ý chí hào

Bắc sứ giải bày niềm hòa hiếu

Nam đình phò chúa rạng cờ mao

Thượng thư Hình bộ ngời danh tiếng

Tiến Sỹ Thanh Hoa giỏi việc trào

Tổ mộ Đồn Hầu đã linh nghiệm

Đời đời quan chức mãi thanh cao”.

           

Thân phụ là Doãn Đăng Hòa, làm quan Hàn lâm viện Biện tu Quốc sử quán. Thân mẫu là Á phu nhân Nguyễn Thị Uyễn. Tuổi trẻ ham học văn chương, trí lự hơn người, hơn 20 thi hương đã trúng tứ trường. Thấy thủa đầu mọi sự đều khó mà đã thành công, sáng danh Tổ nghiệp. cụ càng phấn chấn dùi mài kinh sử. Đến năm Giáp Thìn đời vua Trần Anh Tông niên hiệu Hưng Long thứ 12, lên kinh thi hội liền trúng đồng Tiến Sỹ cập đệ thứ 8. Bước đầu quan nghiệp được bổ nhiệm Hàn lâm Hiệu lý. Công việc  luôn mẫn cán nên đến năm Hưng Long thứ 20 (1312). Cụ được thăng Tả thị lang Bộ Hình. Vua Trần Minh Tông biết cụ có tài đức nên vừa nối ngôi, năm Giáp dần đời Đại Khánh đã cất nhắc người lên chức Thượng thư bộ Hình, đặc phong hàm Thiếu bảo. Từ đó Cụ thuộc bậc Quân quôc trọng thần, thường lấy đức hóa nhân trọng chính sách, làm quan thanh liêm chính trực, lòng son giúp nước trợ dân được gia phong hàm thiếu bảo.

            Bấy giờ ta vừa 3 lần chiến thắng quân Nguyên việc bang giao giữa Việt Nam và Trung Quốc đứt đoạn. Triều đình muốn phục hồi lại mối bang giao bình thường, để tạo cảnh thái bình. Cần có người có đủ khả năng và trí lực đi Sứ có thể đảm bảo được Quốc thể và biện bạch được phân minh, Triều đình nhất trí  cử quan Hình bộ Thượng thư Doãn Băng Hài làm Chánh sứ, Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại khánh thứ 9 cụ nhận  cờ biển Chánh sứ cùng 2 vị phó sứ và đoàn tùy tùng đi công cán phương Bắc. Đến Yên Kinh, khi vào triều kiến, Hoàng đế nhà Nguyên là Nguyên Nhân Tông hỏi: “Nam bang nước nhỏ không chịu uy vũ của Thiên triều. Ba lần đắc tội sao nay mới đến chậm vậy?”.

Ngài tâu rằng: “Thần ở nước Nam nhỏ bé từng nghe cha khoan từ thì con hiếu thuận. Như cha độc ác thì làm sao có con hiếu thuận được. Nhanh hay chậm là lẽ đương nhiên.” Vua Nhân Tông nghe vậy cười xòa khen quan Chánh sứ Việt Nam là người có trí lực, tiếp đãi sứ đoàn trọng hậu phân minh và chỉ dụ cho triều quan cùng đoàn sứ bộ thảo trước thể lệ hòa hiếu bang giao. Việc thành sứ bộ xin về. Thiên triều đặt giấy cáo sứ, lễ nghi tiễn tống hậu hỹ vô cùng.

Về nước tâu trình công việc kết quả. Vua Minh Tông hết sức vui mừng phong chức thiếu phó Hương Đình Hầu  và thưởng cho đất tốt 100 mẫu ở huyện Đông Ngàn làm trang ấp. Bình sinh cụ là người cương trực, khi bàn bạc có lý có tình, sáng suốt hơn người.(*)

 Con Trưởng là Doãn Định thi hội đậu Tam trường làm quan đến Giám Sát Ngự sử. Con thứ là Doãn Hoằng cùng gia quyến đến nhận đất mới lập thành trang ấp của họ Doãn lấy tên là Doãn Xá ấp sau thành thôn Doãn Xá Đông Sơn.

 

Cụ mất ngày 12 tháng 10 năm Nhâm Thân, thời vua Trần  Hiến Tông  niên hiệu Khai Hựu thứ tư , thọ 61 tuổi phụ táng theo Tổ mộ xứ Đồn Hầu. Cụ Bà mất năm Canh Thìn ngày 07 tháng 11 táng tại xứ Đồng Đình trong  xã.

 

(*) Tồn nghi:  Trong Quốc Sử: Bộ Việt sử thông giám cương mục chính biên, quyển VI trang 576 lại ghi Chánh Sứ Doãn Bang Hiến, mất trên đường đi Sứ năm Nhâm Tuất.

 

111   Đời 3-Doãn Định. Con trưởng cụ Băng Hài, sinh năm Nhâm Tý 1312 mất năm 1363 thọ 52 tuổi, mộ tại xứ Đồn Hầu.  Thi Hội trúng Tam trường, làm quan đến chức Giám sát Ngự sử, chính thất  họ Hoàng sinh con trai Đăng Quyết

 

 

1111    Đời 4-Doãn Quyết con cụ Doãn Định, sinh năm Ất Mùi 1355 mất năm 1410 thọ 55 tuổi, thi hương đỗ tam trường, được phong Cung Hiến Đại Phu, chính thất  họ Nguyễn sinh 2 con trai: Doãn Năng, Doãn Nỗ ( cụ Doãn Nỗ  là Khai quốc công thần Triều Lê,  xem phần chi Phương Chiểu )

 

 

11111     Đời 5-Doãn Năng  tự là Hành con trưởng cụ Doãn Quyết, sinh năm Canh Ngọ 1390 mất năm Canh Ngọ-1450. Thọ 61 tuổi,  Thi hương đỗ tứ trường, làm quan đến chức Giám Tử (thời Thuận Thiên đời vua Lê Thái Tổ). Năm Ất Mùi 1415, Hương Cổ Na bị giặc Minh vây ráp giết hại hơn ba ngàn người. Cụ cùng em trai và  18 người chạy thoát, theo chúa Lam Sơn đánh giặc, sau trở về lập lại làng cũ giữ dòng họ Doãn cho đến ngày nay, cụ sinh  con trai  Doãn Đạt.

 

11111.1    Đời 6-Doãn Đạt con cụ Doãn Năng, sinh năm Nhâm Tý 1432 mất năm Quý Hợi 1503, thọ 71 tuổi, thi hương trúng tam trường mở trường dạy học tại quê nhà. Chính thất người họ Nguyễn Bá, sinh con trai Doãn Cương.

 

11111.11    Đời 7-Doãn Cương con cụ Doãn Đạt, sinh năm Đinh Mùi-1487 mất năm Đinh Tỵ 1557, thọ 70 tuổi. Thi hương trúng tam trường làm thừa phái ở huyện được vinh phong tước Bá, chính thất họ Hoàng sinh con trai là Doãn Cường.

 

 

11111.111     Đời 8-Doãn Cường con cụ  Doãn Cương,  sinh năm Nhâm Thìn (1532) mất năm Đinh Mùi (1607) thọ 75 tuổi, thi hương đậu tứ trường làm Đề lại ở huyện, chính thất Nguyễn Thị Duyên mất năm 1608, sinh con trai là Doãn Hy. Hai cụ là quan viên phụ mẫu triều Lê  nên cụ được vinh phong tước hầu, cụ bà được tặng tam phẩm thục nhân. 

 

11111.1111     Đời 9- Doãn Hy  tự Trung Hiếu thụy Cương Trực, con cụ Doãn Cường, sinh năm Nhâm Thân (1572) mất ngày 19-3 năm 1642 thọ 70 tuổi. Thi hương trúng tứ trường, làm quan từ chức Tư vụ Hiệu lý  thăng đến Tả thị lang bộ binh, hàm Thiếu bảo. Nhiều lần theo chúa Bình An Vương Trịnh Tùng đánh giặc có công. Năm Nhâm Tuất 1622 Trịnh Xuân nổi loạn đốt phủ chúa. Chúa Trịnh Tùng phá vây chạy ra ngoài bị thương nặng. Ông phải cõng chúa chạy, vừa phải đánh giặc, đến tận Hoàng Mai huyện Thanh Trì, Chúa Trịnh Tùng khi ấy đã kiệt sức lấy máu mình viết lên quần vải trắng cụ Doãn Hy sáu chữ: Con nhà tớ nhớ nhà người  rồi còn lấy cả bàn tay còn dính máu in trên quần thay dấu ấn. Trịnh Tráng nối nghiệp Trịnh Tùng coi cụ như ân nhân nhà chúa. Cụ được phong Thiếu bảo tặng công bộ Thượng thư, gia phong Thiếu úy. tước Nhân quận công Thượng thượng trật,  tái gia phong Phó quốc vương. Sau khi mất được phong làm Phúc thần và lập miếu thờ tại xóm Đinh, miếu hiệu là: Doãn Quận công miếu. Người đời sau còn có thơ vịnh về  cụ :

                                    Cổ lai bản xã vô hương tước

                                    Duy chỉ tướng công đạt Phó vương

                                    Cứu chúa danh thành cao ân điển

                                    Năng thức Trịnh gia trọng nghĩa trường.

Cụ  bà không còn rõ tên  sinh  một con trai : Đình Tá.

 

11111.11111    Đời 10-Doãn Tuấn tự Đình Tá, con trai cụ Doãn Hy, sinh năm Tân Sửu-1601, mất năm 1666 thọ 67 tuổi, mộ tại xã Xuân Du huyện Như Xuân, năm 2002 hậu duệ đã dời về xứ Đồn Hầu. Cụ học hành thông minh nổi tiếng hơn người. 20 tuổi thi hương đậu tứ trường, năm 26 tuổi thi hội, đỗ Tiến sĩ thứ tư năm Đinh Dần (1626), làm quan đến chức Hiến sát sứ, được phong Hanh Nguyên Tế tự Dực vận công thần, hàm Thiếu bảo. Cụ và con trai có miếu thờ bên cạnh miếu Quận Công, có miếu hiệu là Doãn Tiến sĩ miếu. cụ sinh 1 con trai Doãn Đệ.

              

 

1       Đời 11-Doãn Đệ con trai cụ Đình Tuấn, sinh năm Canh Ngọ 1630 mất năm 1695 thọ 66 tuổi, thi hương trúng Tứ trường, thi hội trúng Tam trường. Làm quan  thăng đến chức Hộ b Tả thị lang kiêm Vi văn điện thử sự viên sử. Chính thất  họ Trần sinh 2 con trai :Doãn Động và Doãn  Địa( cụ Doãn Địa trúng Tam trường làm thừ phái, về sau không rõ )

 

 

11       Đời 12- Doãn Động con trưởng cụ Doãn Đệ, sinh năm 1640 mất năm 1710 thọ 71 tuổi, thi hương trúng Tứ trường, làm quan đến chức Đại phu hữu bật,  Cụ bà  họ Hoàng,  sinh con trai  Đình Kiến.

 

111     Đời 13-Doãn Đình Kiến con cụ Doãn Động,  sinh năm Mậu Ngọ (1678) mất ăm Mậu Thìn-1748,  tập ấm làm Thừa phái huyện. Chính thất họ Hoàng sinh con trai  Đăng Tri.

1111     Đời 14-Doãn Đăng Tri con cụ Đình Kiến,  sinh năm Canh Dần (1710) mất năm Canh dần 1770, thi hương đậu tứ trường làm  Tri huyện Thư Trì-Thái bình, chính thất họ Nguyễn sinh con trai: Đăng Thức.

 

11111   Đời 15-Doãn Đăng Thức con cụ Đăng Tri, sinh năm Bính Dần (1746) mất ngày 15 tháng giêng năm Kỷ Mão (1819) mộ tại xứ Đồng Đình. Năm 20 tuổi thi hương đỗ Sinh đồ, sau thi Võ đỗ Tứ trường, được bổ  làm suất đội, đánh giặc có công nên được phong Uy vũ Tướng quân hàm Bách bộ, về hưu tham gia hội đồng hương chính hàng xã, Chính thất họ Trần  người cùng xã,  sinh  con trai Doãn Quyền.

 

* Bị chú Phả chi Cổ định  

            Nghè giáp xã ta, ngoài việc thờ thánh ngũ vị còn phối thờ “Bách linh tôn thần” (Trăm thần linh thiêng). Trong xã ai là người có công ích lớn, quan chức to, có sắc phong của triều đình, được phong  làm Phúc thần đều được cộng đồng hàng xã rước sắc lên nghè, phối thờ cùng các vị thần linh của xã.

Theo các cụ cao tuổi kể trước đây họ Doãn ta có 6 đạo sắc phong của tiền nhân, đã  có 5 đạo sắc của các cụ: Doãn Băng Hài, Doãn Định, Doãn Hy, Doãn Tuấn, Doãn Đệ được  rước lên phối thờ với Bác linh thần ở Nghè. Họ chỉ còn giữ lại đạo sắc phong của cụ Doãn Đăng Thức là Uy vũ tướng quân hàm Bách hộ.

            Năm 1947 xã Ninh Hòa ( 2 xã Tân Ninh và Thái Hòa ngày nay ) có lệnh tập trung các đền chùa miếu mạo, bằng sắc tiền triều đưa vào gửi gắm các tư gia, hóa nên mất mát hết, không còn tìm lại được.

 

 

 

*1      Đời 16-Doãn Quyền con trai cụ Đăng Thức, mất ngày 15-1 thọ 68 tuổi,  thi hương trúng tam trường, làm nghề dạy học, chính thất  họ Hoàng sinh  3  con trai: Doãn Phiệt, Doãn Công, Doãn Thi, từ đây chi Cổ Định chia thành 3 phân chi ( từ đời thứ 17 trở đi)

 

 

Phân chi 1-Cổ định

 

*11     Đời 17- Doãn Phiệt con trưởng cụ Doãn Quyền, năm sinh năm mất, tên cụ bà đều không còn rõ, nối nghiệp cha làm nghề dạy học, sinh 2 con trai Doãn Văn,  Doãn Tó.

 

*111     Đời 18- Doãn Văn con trai trưởng cụ Doãn Phiệt, làm nghề dạy học. Cụ bà  người Đông Sơn, không có con nhận 2 con nuôi, con nuôi của cụ thứ nhất (không rõ tên), cụ thứ hai là Doãn Lỏi

*1111      Đời 19- con nuôi thứ nhất cụ Doãn Văn sinh 1 con trai Doãn Chới,

*11111   Đời 20- Doãn Chới, chính thất Lê Thị Rơm sinh được 2 con trai: Doãn Hiệu, Doãn Phú và 2 con gái: Doãn Thị Sở lấy chồng là Lê Sỹ Lạc, Doãn Thị Sang chồng là Lê Bật Keng.

 

**1      Đời 21-Doãn Hiệu con trai trưởng cụ Doãn Chới,  sinh con  Doãn Hưởng.

 

**11     Đời 22- Doãn Hưởng vợ  Trương Thị Hợi  sinh 4 con gái: Doãn Thị Hương chồng là Lê Đình Đáng, Doãn Thị Nhị chồng là Hứa Viết Quyền, Doãn Thị Thoa chồng là Lê Khắc Chung, Doãn Thị Sen chồng là Nguyễn Bá Hải, và 2 con trai  Doãn Tùng, Doãn Thông .

**111     Đời 23- Doãn Tùng vợ  Phạm Thị Ngoan sinh 2 con:  Doãn Huy Vũ, Doãn Thị Phương Vi.

 

**112     Đời 23- Doãn Thông con trai thứ 2 ông Hưởng , vợ  Nguyễn Thị Quế sinh 2 con:  Doãn Mai Chi, Doãn Nguyên Bảo.

 

**2         Đời 21-Doãn Phú con trai thứ 2 cụ Doãn Chới, chính thất Trịnh Thị Quang sinh 2 con trai: Doãn Lc, Doãn Bình,  và 2 con gái Doãn Thị Hoa, Doãn Thị Hồng.

 

**21          Đời 22- Doãn Lộc vợ Trần Thị Thoa có 2 con: Doãn Giang, Doãn Thị Duyên.

 

**22          Đời 22-Doãn Bình vợ Lê Thị Hợp có 2 con: Doãn Dương, Doãn Thị Duyên

 

*1112       Đời 19-Doãn Lỏi con thứ 2 cụ Doãn Văn,  sinh 2 con trai  Doãn Rảng, Doãn Khắc và 1 con gái Doãn Thị Ngương lấy chồng ở cùng xã.

 

*11121     Đời 20- Doãn Rảng con trưởng cụ Doãn Lỏi, chính thất  Nguyễn Thị Roan, sinh 2 con trai: Doãn Cảng, Doãn San, và 2 con gái Doãn Thị Thúy chồng là Hứa Như Hợp, Doãn Thị Ký chồng là Lê Đình Hy, Doãn Thị Tứ.

 

**1        Đời 21-Doãn Cảng con trai trưởng cụ Rảng, vợ  Cao Thị Liên. Sinh 3 con  : Doãn Ngọc, Doãn Thị Hoa, Doãn Hiếu

 

**11        Đời 22- Doãn Ngọc con trưởng ông Doãn Cảng, vợ  Phạm Thị Phương có 2 con Doãn Trung Hải, Doãn Thị Phương Linh.

 

**12         Đời 22- Doãn Hiếu con út ông Doãn Cảng, vợ Hoàng Thị Hường có 2 con  Doãn Hoàng Bình Minh, Doãn Thị Hồng Nhung.

 

**2         Đời 21- Doãn San con thứ 2 cụ Rảng, Vợ cả Lê Thị Tám, vợ 2  Lê Thị Hằng. Sinh 2 con trai : Doãn Hùng, Doãn Dũng .

 

**21        Đời 22- Doãn Ngọc Hùng vợ Lê Thị Đào có 2 con trai: Doãn Ngọc Trung, Doãn Ngọc Sĩ.

 

**212       Đời 22- Doãn Ngọc Dũng con thứ 2 ông Doãn San, vợ Lê Thị Hiếu có 2  con: Doãn Thị Hiền, Doãn Ngọc Hậu.

 

*11122       Đời 20-Doãn Khắc con thứ 2 cụ Doãn Lỏi, chính thất  Lê Thị Phan sinh 1 con trai: Doãn Quyền và 2 con gái Doãn Thị Phán chồng là Lê Đình  Nghình, Doãn Thị Hoán  chồng là Hứa Như Trắc. 

 

**1             Đời 21- Doãn Quyền con trai cụ Doãn Khắc, chính thất Lê Thị Nho,  sinh  6  con là: Doãn Thị Xuân, Doãn Trung Tuần (Liệt sỹ chống Mỹ),Ngọc Chung, Trung Kiên, Doãn Thị Nhẫn chồng là Nguyễn Bá Phong, Doãn Thị Cúc chồng làng Lê Bá Ngàn.

 

**12         Đời 22- Doãn Ngọc Chung con trai thứ 2 cụ Doãn Quyền, vợ  Lê Thị Thu có 2 con trai : Doãn Ngọc Thắng, Doãn Ngọc Long.

 

**121        Đời 23- Doãn Ngọc Thắng vợ  Vũ Thị Bảo Oanh sinh 2 con: Doãn Ngọc Vân, Doãn Ngọc Long.

 

**13          Đời 22- Doãn Trung Kiên con trai thứ 3 cụ Doãn Quyền, vợ Nguyễn Thị Xuân có 3  con: Doãn Thị Trang chồng là Phạm Ngọc Dương, Doãn Thị Giang, Doãn Trung Quyết.

 

*112         Đời 18- Doãn Tó con thứ 2 cụ Doãn Phiệt, sinh 2 con trai Doãn Thải và Doãn Thường.

 

*1121          Đời 19- Doãn Thi con trưởng cụ Doãn Tó, chính thất họ Lê Viết người cùng xã, sinh 5 con trai  Doãn Nghì, Doãn Lỡ, Doãn Bơ, Doãn Năm, Doãn Lục (liệt sỹ chống Pháp) và con gái Doãn Thị Nhân.

 

*11211        Đời 20-Doãn Nghì con trai trưởng cụ Doãn Thải. Chính thất Lê Thị Mời, sinh 2 con gái: Doãn Thị Ty, Doãn Thị Tư, và 2 con trai Doãn Nghĩa, Doãn Trí.

 

**1          Đời 21-Doãn Nghĩa con trai trưởng cụ Doãn Nghì, mất ngày 16-10-2008,  vợ  Lê Thị Hằng, sinh 3 con gái: Doãn Thị Hường chồng là Ngô Văn Nam, Doãn Thị Hoa chồng Lê Đình Hùng, Doãn Thị Thơm chồng Nguyễn Văn Toàn. Và 2 con trai Doãn Du , Doãn Dũng.

 

**11         Đời 22- Doãn Du con trai trưởng cụ Doãn Nghĩa, vợ là Phạm Thị Thủy sinh 2 con trai  Doãn Bách, Doãn Tùng.

 

**12        Đời 22- Doãn Dũng con thứ 2 cụ Doãn Nghĩa, vợ  Tô Lan Phương sinh con trai  Doãn Ngọc Diệp.

 

**2        Đời 21-Doãn Trí con trai thứ 2 cụ Doãn Nghì, mất ngày 1-9-2009, vợ Tạ Thị Thắm, sinh con trai Doãn Tiến và  4 con gái : Doãn Thị Tình chồng là Trịnh Dy Mỹ. Doãn Thị Tuyết chồng là Lê Ngọc Sáng. Doãn Thị Nhung chồng là Lưu Vũ Tịch. Doãn Thị Duy chồng là Lê Quang Thái.

**21        Đời 22- Doãn Tiến vợ là Lê Thị Diệu, sinh con gái: Doãn Thị Thảo My

 

*11212     Đời 20-Doãn Lỡ con trai thứ 2 cụ Doãn Thải, mất ngày 9-8-1987, chính thất Thị Bì mất ngày 27-12 năm 1992, sinh con trai: Doãn Lường, và 4 con gái: Doãn Thị Đông (đã mất) Doãn Thị Hòe chồng là Lê Sỹ Long, Doãn Thị Thu chồng là Vũ Đình Kim, Doãn Thị Xuân chồng là Lê Đình Luyện.

 

**1          Đời 21- Doãn Lường con trai cụ Doãn Lỡ, mất ngày 4-2-1986, vợ Lê Thị Chức. Sinh 3 con trai : Doãn Liệu, Doãn Luân, Doãn Lưu, Doãn Luyến. và con gái Doãn Thị Loan chồng Lê Đình Hà.

**11        Đời 22- Doãn Liệu con trưởng cụ Doãn Lường, vLê Thị Vang sinh 2 con trai: Doãn Lam vợ là Vũ Thị Nga, Doãn Lanh.

 

**12        Đời 22- Doãn Luân con trai thứ 2 cụ Lường, vợ Ngô Thị Lê có 2 con gái: Doãn Thị Hồng, Doãn Thị Hiền.

 

**13        Đời 22- Doãn Lưu con trai thứ 3 cụ Doãn Lường, vợ  Lê Thị Tâm sinh 2 con gái : Doãn Thị Huệ, Doãn Thị Mai.

 

**14        Đời 22- Doãn Luyến con trai thứ 4 cụ Doãn Lường, mất ngày 27-7-2003, vợ Nguyễn Thị Hồng có 2 con gái: Doãn Thị Vân Anh, Doãn Thị Vân.

 

*11213      Đời 20-Doãn Bơ con trai thứ 3 cụ Doãn Thải, vợ Lê Thị Ngọ sinh 2 con trai Doãn Cầu, Doãn Kỳ và 3 con gái: Doãn Thị Cống chồng là Lê Đình Đáng. Doãn Thị Ngợi chồng là Lê Đình Hiên. Doãn Thị Chút chồng là Lê Đình Cương.

 

**1            Đời 21- Doãn Cầu con trai trưởng cụ Doãn Bơ, vợ  Nguyễn Thị Bi, sinh 3 con: Doãn Thị Hà, Doãn Thanh, Doãn Thị Thúy chồng là Lê Đình Thanh.

Đời 22- Doãn Thanh vợ  Lê Thị Nụ, sinh 3 con: Doãn Thị Hương, Doãn Dũng, Doãn Thị Thảo.

 

**2          Đời 21- Doãn Kỳ con trai thứ 2 cụ Doãn Bơ, vợ  Lê Thị Liên sinh 2 con trai Doãn Hùng, Doãn Vân và 2 con gái: Doãn Thị Hải chồng là Phạm Văn Tân. Doãn Thị Mai chồng là Nguyễn Văn Long.

 

**21         Đời 22- Doãn Hùng con trai trưởng ông Doãn Kỳ, vợ  Nguyễn Thị Hoa sinh 2 con trai : Doãn Long, Doãn Mạnh.

 

**22           Đời 22 - Doãn Vân con trai thứ 2 ông Doãn Kỳ, vợ Nguyễn Thị Thủy sinh 2 con gái: Doãn Thị Dung, Doãn Thị Linh.

 

*11214         Đời 20- Doãn Năm con trai thứ 4 cụ Doãn Thải, viên chức nghỉ hưu, mất năm 1999 chính thất  Lê Thị Hưng mất ngày 5-7 âm lịch, sinh 3 con trai Doãn Sáng (liệt sỹ chống Mĩ), Doãn Hiệp, Doãn Nghị, và 2 con gái: Doãn Thị Vượng chồng Nguyễn Chân Phương, Doãn Thị Liên chồng là  Hoàng Năng Giang.

 

**1        Đời 21- Doãn Hiệp con trai trưởng cụ Doãn Năm, vợ  Trần Thị Kỳ, sinh 2 con trai  Doãn Hợp, Doãn Thắng vợ là Hoàng Vân Anh.

**11        Đời 22- Doãn Hợp con trưởng ông Doãn Hiệp, vợ  Trương Thị Hiền sinh 2 con: Doãn Hà Linh, Doãn Việt Lâm.

 

 

**2          Đời 21- Doãn Nghị con trai thứ 2 cụ Doãn Năm , vợ  Trịnh Thị Hương, sinh 2 con gái : Doãn Thị Lan chồng là Ngô Quốc Khánh, Doãn Thị Hoài chồng là Hà Đăng Lanh.

 

 

 

 

Phân chi 2-Cổ định

 

*12          Đời 17-Doãn Công: con thứ hai cụ Doãn Quyền, mất ngày 5-6 âm lịch thọ 75 tuổi.  Thời vua Minh mạng, nhập ngũ làm cai cơ nên thường gọi là Cai Kiệm  có sắc phong của nhà vua. Chính thất Hứa Thị Duyên, sinh 2 con trai  Doãn Kiệm, Doãn Kiến, và 2 con gái :Doãn Thị Lụ,  Doãn Thị (bà Cổ Lĩnh).( Có chuyện kể về cụ Doãn Công, khi tham gia dẹp cuộc khởi nghĩa của Phan Bá Vành bị bắt, lúc đem xử biết cụ là người cùng quê Cổ định nên ông Phan Bá Vành đã tha cho.)

 

*121        Đời 18-Doãn Kiệm con trai trưởng cụ Doãn Công, mất ngày 5-4-âm lịch thọ 75 tuổi, m chánh tổng Cổ Định. Tính tình trung thực lấy đức hóa nhân, Chuyện kể: Trong khi cụ làm cai tổng thời Tự Đức sát Gia Tô. Có người theo đạo Gia Tô từ Ba Làng chuyển đến để xử, cụ dấu diếm cơm tha cho, sau họ thường đến thăm hỏi cụ. Cụ còn giúp tiền của để khai phá thành lập châu Như Xuân, cụ bà không còn nhớ tên sinh 2 con trai :Doãn Lương, Doãn Cần, và 2 con gái Doãn Thị Lơi chồng Lê Nguyên Quyền,  Doãn Thị Ước chồng là  Ba Cốt ( làm giáo học).

 

*1211       Đời 19-Doãn Lương: con trai cụ Doãn Kiệm, mất ngà 25-6 âm lịch, thi hương trúng Nhị trường, làm thư lại huyện Nông Cống, chính thất họ Lê Đình sinh con gái Doãn Thị Miễn lấy chồng họ Lê Văn, thứ thất Lê Thị Soi mất ngày 4-4,  sinh 2 con trai Doãn Cẩn, Doãn Câu và 2 con gái: Cô Phó VãnhDoãn Thị Hiên  chồng Lê Đình  Thu.

 

*12111     Đời 20-Doãn Cẩn con trai cụ Doãn Lương, chính thất  người họ Lê,  sinh 1 con trai Doãn Cấn và 4  con gái : Doãn Thị Nụ chồng là Cụ Hương Trúc xóm Đinh. Con gái thứ 2  lấy ông Hương Nên xóm Mậu. Doãn Thị Nở chồng ơng Tải xóm Mậu. Doãn Thị Vinh lấy chồng ở Neo-Thọ Xuân.

 

**1         Đời 21- Doãn Cấn con trai cụ Doãn Cẩn. mất năm 1969,  làm Tư bạ được tặng Cửu phẩm,  chính thất Lê Thị Tuyên người xóm Bính. sinh 2 con trai và 2 con gái : Doãn Thị Nga (đã mất), Doãn Thị Hằng, Doãn Vịnh (Vinh), Liệt sỹ  Doãn Đàm (sinh năm 1835, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ năm 1968), Doãn Thiệp, Doãn Uông (Thanh).

 

**11       Đời 22- Doãn Vinh con trai trưởng cụ Doãn Cấn, mất năm 2000, vợ  Lê Thị Tớm. sinh 2 con: Doãn Thị Hương,Văn Tuấn.

**111       Đời 23-Doãn Văn Tuấn vợ Trịnh Thị Bích Hường sinh 2 con gái: Doãn Thị Minh Hiền, Doãn Thị Minh Châu.

 

 

**12         Đời 22- Doãn Thiệp con trai thứ 3 cụ Doãn Cấn, vợ  Trang Thị Quý, sinh 2 con: Tuấn Linh, Doãn Thu Trang  chồng là Nguyễn Minh Trung.

**121        Đời 23-Doãn Tuấn Linh vợ Đỗ Thị Thanh sinh con trai: Doãn Trung Khiêm.

 

**14        Đời 22- Doãn Thanh con trai thứ 4 cụ  Doãn Cấn, vợ là Hoàng Thị Băng sinh 2 con trai: Thanh Hải,  Tuấn Anh.

**141         Đời 23- Doãn Thanh Hải vợ là Nguyễn Thị Dung Hạnh.

**142       Đời 23-Doãn Tuấn Anh vợ Nguyễn Thị Thanh Hà sinh 2 con: Doãn Thị Phương Ngân, Doãn Sơn.

 

*12112         Đời 20- Doãn Câu con trai thứ 2 cụ Doãn Lương, mất ngày 25-12 thọ 75 tuổi, chính thất Lê Thị Miêu người xóm Ất, mất ngày 18-5, thọ 72 tuổi, sinh 2 con trai Doãn Hào, Doãn Ngũ và con gái Doãn Thị Hương chồng là Lê Văn Cộ.  thứ thất Lê Thị Náu quê ở xóm Tào Lâm-Thái Hòa mất ngày 4-1 thọ 65 tuổi,  sinh 2 con gái: Doãn Thị Lý (Ný) chồng là Lê Bật Đới. Doãn Thị Minh chồng là Lê Văn Gấm (Nưa).

 

**1               Đời 21- Doãn Hào con trai trưởng cụ Doãn Câu, mất ngày 16-4 năm 1984, làm giáo học ở tổng Cổ Định, chính thất Nguyễn Thị Duyên, người ở xóm Quần Trúc, xã Tiến Nông, sinh 2 con trai : Doãn Thoan, Doãn An và 4 con gái : Doãn Thị Hảo  chồng là Lê Ngọc Dong ở xóm Ất. Doãn Thị Hoan  chồng tên là Đặng ở thành phố Thanh Hóa. Doãn Thị Ngoan chồng tên là Tuấn ở thành phố Thanh Hóa. Doãn Thị Dung chồng là Tâm  xã Tiến Nông, Triệu Sơn.

 

**11             Đời 22- Doãn Thoan:con trai trưởng cụ  Doãn Hào,  sinh 1 con trai Doãn Thanh và 6 con gái: Doãn Thị Liên, Doãn Thị Ngọc, Doãn Thị Hạnh, Doãn Thị Huyền, Doãn Thị Nhung, Doãn Thị Chung.

**111         Đời 23- Doãn Thanh sinh 2 con: Doãn Lê Mai, Doãn Tùng.

 

**12         Đời 22- Doãn An: con trai thứ 2 cụ  Doãn Hào, sinh 3 con: Doãn Thị Bình, Doãn Thị Phương, Doãn Dũng.

 

**2           Đời 21- Cụ Doãn Ngữ con trai thứ 2 cụ Doãn Câu,  sinh năm 1921,  cán bộ huyện  Nông Cống nghỉ hưu, chính thất Lê Thị Sâm, sinh năm 1920, người xóm Ất.  sinh 5 con: Doãn Minh (bị bệnh bẩm sinh), Doãn Việt (bị bệnh bẩm sinh), Doãn Thị Hòa chồng là Lê Văn Hùng xã Văn Sơn, Doãn Thị HợpDoãn Quốc Khánh.

 

*1212         Đời 19-Doãn Cần con trai thứ 2 cụ Doãn Kiệm, làm thầy Địa lý mất ngày 20-3. Chính thất Lê Thị Thi, sinh 3 con trai Doãn Oanh, Doãn Châu, Doãn Hưng, thứ thất người Đoan Hùng-Phú thọ sinh 2 con trai: Doãn Lung, Doãn Đoài (cụ Đoài trở về Phú thọ , sau không rõ ).

 

*12121       Đời 20-Doãn Oanh: con trai trưởng cụ Doãn Cần, thọ 70 tuổi,  đi lính được tặng Cửu phẩm, chính thất Lê Thị Mùi,  sinh 3 con gái: Doãn Thị Thanh (hiện không rõ ở đâu). Doãn Thị Thơi chồng là Lê Bật Sữu. Doãn Thị Thảnh chồng Đinh Văn Nét.

 

*12122       Đời 20- Doãn Châu: ( Bang Cần), con thứ 2 cụ Doãn Cần. mất ngày 7-2,  ông đi lính được tặng Bát phẩm, sau về làm Bang tá huyện Nông Cống, chính thất  Lê Thị , sinh 3 con: Doãn Thị, Doãn Cao, Doãn Thi.

 

**2         Đời 21- Doãn Cao con thứ 2 cụ Doãn Châu, sinh 4 con trai : Doãn Đài (Liệt sĩ chống Pháp), Doãn Đệ (Liệt sĩ chống Mỹ), Doãn Trang (Liệt sĩ chống Mỹ), Doãn Hạ.

Đời 22- Liệt sỹ Doãn Đệ  con trai thứ 2 cụ Doãn Cao, hy sinh trong kháng chiến chống Mĩ, sinh 3 con trai: Doãn Thanh, Doãn Long, Doãn Lưu, và 2 con gái Doãn Thị Thủy, Doãn Thị Phương 

 

**24       Đời 22- Doãn Hạ con trai thứ 4 cụ Doãn Cao, sinh 4 con trai: Doãn Dương, Doãn Dũng, Doãn Linh, Doãn Hiền, và 2 con gái Doãn Thị Nga, Doãn Thị Ngân

 

*12123      Đời 20-Doãn Hưng: con trai thứ 3 cụ Doãn Cần, theo đạo Thiên chúa, làm Chánh  trương xứ Đạo, vợ Lê Thị Mên sinh con trai Doãn Liên và 3 con gái được: Doãn Thị Thịnh chồng là Lê Đình Rường, Doãn Thị Phượng chồng là Lê Đăng Biên,  Doãn Thị Lấn chồng Lê Đăng Hộc.

**1        Đời 21-Doãn Liên con trai cụ Hưng, sinh 3 con trai và 1 con gái : Doãn Hiệp, Doãn Thị Huyền, Doãn Tuấn, Doãn Vũ.

**11       Đời 22-Doãn Hiệp con trưởng cụ Doãn Liên, sinh 2 con: Doãn Thành, Doãn Thị Nhung.

**12         Đời 22- Doãn Tuấn con trai thứ 2 cụ Liên,  sinh con: Doãn Minh Tâm

 

*12124       Đời 20- Doãn Lung: ( Nhang Luông), con thứ 4 cụ Doãn Cần, làm Chánh trương xứ Đạo. Vợ cả  Lê Thị Vẹt (không có con). Vợ kế Lê Thị Đâu sinh 2 con gái :Doãn Thị Tòng chồng là Lê Bật Tích. Doãn Thị Tình lấy chồng ở làng Hang xã Đông Tiến.

 

*122           Đời 18- Doãn Kiến: (tức Cố Khiêm), con trai thứ 2 cụ Doãn Công, mất ngày 5-1 thọ 72 tuổi, chính thất Lê Thị Xởn mất ngày 7-2 âm lịch,người xóm Ất cùng xã, sinh 1 con trai Doãn Trinh và 4 con gái: Doãn Thị Điểm lấy chồng họ Lê Nguyên. Doãn Thị Khuyên lấy chồng họ Ha Đình. Doãn Thị Dụ lấy chồng họ Lê Bật. Doãn Thị Dy (không có con)

 

*1221        Đời 19-Doãn Trinh con trai cụ Doãn Kiến, mất ngày 29-12-1933 thọ 59 tuổi, làm Điển ước tổng Cổ Định, chính thất Lê Thị Mỡi sinh con trai Doãn Kỹ. kế thất  Lê Thị Bính  mất ngày 22-8 âm lịch, thọ 71 tuổi, sinh 2 con trai: Doãn Cơ, Doãn Ngọ, và  4 con gái  Doãn Thị Bơ chồng là Đinh Văn Ngẫu Triệu Sơn. Doãn Thị Bừng chồng Lê Văn Hãnh.  Doãn Thị Thân chồng Đỗ Văn Trung. Doãn Thị Tý chồng Nguyễn Bá Luân.

 

*12211        Đời 20-Doãn Kỹ con trai trưởng cụ Doãn Trinh, mất ngày 7-9 âm lịch,  Năm 1947 làm Chủ tịch xã Thái Hòa. Chính thất  Lê Thị Tích sinh 2  con gái và 3 con trai : Doãn Thị Tẻo, Doãn Thị Huê, Doãn Thi, Doãn Phán, Doãn Phong.

*12212       Đời 20- Doãn Cơ con trai thứ 2 cụ Doãn Trinh,  sinh năm 1909 mất ngày 7-7 năm 1978 thọ 78 tuổi , chính thất  Lê Thị Hang, sinh năm 1907 ( đã mất)  người xóm Giáp,  sinh 2 con trai Doãn Đệ, Doãn Đường và 3 con gái: Doãn Thị Hương chồng Lê Đình Ngát ở xóm Bính. Doãn Thị Hoa chồng là  Đỗ Văn Giới. Doãn Thị Cúc chồng là Lê Đình Bản.

 

**1        Đời 21- Doãn Đệ con trai trưởng cụ Doãn Cơ, có 2 con: Doãn Quân, Doãn Hợi và 3 con gái  Doãn Thị Thanh, Doãn Thị Hải, Doãn Thị Vân Anh.

**11        Đời 22-Doãn Quân     sinh con gái: Doãn Thị Huyền,

**12        Đời 22-Doãn Hợi:  sinh 2 con: Doãn Hoàng, Doãn Thịnh.

 

**2        Đời 21- Doãn Đường con thứ 2 cụ Doãn Cơ, có 3 con: Doãn Huynh, Doãn Thị Châu, Doãn Thị Ngọc

*12213         Đời 20-Doãn Ngọ con trai thứ 3 cụ Doãn Trinh,  sinh năm 1917.tham gia kháng chiến từ năm 1945  sau năm 1954 làm cán bộ xuất nhập khẩu đến năm 1970 về hưu, chính thất  Lê Thị Kẹo sinh năm 1918, sinh 7 con: Doãn Chính, Doãn Thị Nhi (1947), Doãn Thị Diên (1949), Doãn Thị Trang (1953), Doãn Đài, Doãn Các (1959), Doãn Quang (1964).

**1       Đời 21-Doãn Chính con trai trưởng cụ Doãn Ngọ, sinh năm 1942, có 4 con: Doãn Truyền, Doãn Âu, Doãn Hiếu, Doãn Hoàng

**11        Đời 22-Doãn Truyền con trưởng ông Doãn Chính, sinh 2 con: Doãn Thanh, Doãn Thị Vân.

**12           Đời 22-Doãn Âu có 2 con: Doãn Thị Phương Ly, Doãn Thị Lan

**13           Đời 22- Doãn Hiếu có 2 con: Doãn Phi Long, Doãn Đăng Long

 

**2            Đời 21- Doãn Đài con trai thứ 2 cụ Doãn Ngọ, sinh năm 1957,  có 4 con: Doãn Thị Anh, Doãn Thị Khiêm, Doãn Mạnh, Doãn Hà.

**3         Đời 21-Doãn Các con trai  thứ 3 cụ Doãn Ngọ , sinh năm 1959 có 3 con: Doãn Dương, Doãn Giang, Doãn Thị Phượng    

 

**4         Đời 21- Doãn Quang con trai thứ 4 cụ Ngọ, sinh năm 1964, sinh 2 con trai : Doãn Trung, Doãn Đức.

 

:

Phân chi 3- Cổ Định

 

*13           Đời 17-Doãn Thi con trai thứ 3 cụ Doãn Quyền, mất  ngày 15-9 âm lịch, làm Cai Tổng Cổ định, nhưng lại bị khiếm thính nên thường gọi là Cai điếc, khi cần việc gì phải có người lấy ngón tay viết lên lưng áo là cụ hiểu và xử lý được.  chính thất Hứa Thị Xuyến người ở xóm Tuy Yên, mất ngày 8-1 âm lịch,  sinh 3 con trai  Doãn Uẩn, Doãn Bạc, Doãn Viện.

*131     Đời 18-Doãn Uẩn con trưởng cụ Doãn Thi, làm nghề thầy địa lí, sinh 3 con gái: Doãn Thị Bề, Doãn Thị Thể, Doãn Thị Chân.

 *132      Đời 18- Doãn Bạc con thứ 2  cụ Doãn Thi, chính thất  Lê Thị Quy,  sinh 4 con trai Doãn Thao, Doãn Diên, Doãn Kinh, Doãn Sinh.

*1321     Đời 19-Doãn Thao con trưởng cụ Doãn Bạc, Đi lính, được thăng chức Phó quản, thường gọi là ông quản Thao, sinh 1 con gái  Doãn Thị Chiễu.

 *1322      Đời 19-Doãn Diễn con thứ 2 cụ Doãn Bạc, chính thất Hoàng Thị Nhơn sinh 2 con trai Doãn Dỡn (cố Lài), Doãn Phiếm.

 

*13221        Đời 20-Ông Doãn Dỡn: (cố Lài)  con trai trưởng cụ Doãn Diện, mất ngày 24-9 năm 1976, chính thất Hứa Thị Tường (cố Mốn) mất ngày 26-11, sinh 4 con gái: Doãn Thị Lan chồng là Lê Đăng Cộng. Doãn Thị Lý chồng là Lê Đình Đèn. Doãn Thị Lài lấy chồng… Doãn Thị Cúc  chồng là  Trần Huy Bọc.

 

*13222        Đời 20-Doãn Phiến con trai thứ cụ Doãn Diễn, mất ngày 5-12 năm 1933, chính thất  Lê Thị Mùi (cố Tỵ xóm Giáp), mất ngày 20-6 năm 1970, sinh 2 con trai: Doãn Hân, Doãn Côi, và 2 con gái Doãn Thị Vân chồng Lê Đình Lơi, Doãn Thị Han chồng là Vương Tiến Mạo.

 

**1         Đời 21-Doãn Hân: con trai trưởng cụ Doãn Phiến,mất ngày 28-6 âm lịch, chính thất Hứa Thị Miến,  mất ngày 23-12 âm lịch, sinh con trai Trọng Năm và 5 con gái: Doãn Thị Dân chồng là Nguyễn Trọng Năm, Doãn Thị Hạnh  chồng là Lê Nguyên Chanh, Doãn Thị Phúc  chồng là Lê Trọng Rộng. Doãn Thị Đức lấy chồng Nguyễn Văn Tính, Doãn Thị Loan  chồng là Nguyễn Hồng Chiến.

 

**2          Đời 21-Doãn Côi:con trai thứ 2  cụ Doãn Phiếm mất ngày 19-9 âm lịch, vợ  Lê Thị Nguyên, sinh 4 con trai: Doãn Cường,  Doãn Tuấn, Doãn Công, Doãn Trung , và 3 con gái : Doãn Thị Cứ chồng là Lê Văn Nho. Doãn Thị Xuân chồng là Hoàng Văn Thành, Doãn Thị Thủy  chồng là Lê Khắc Phượng,

**21          Đời 22- Doãn Cường con  trưởng cụ Doãn Côi, vợ Lê Thị Liên sinh  con gái: Doãn Thị Lệ  chồng là Lê Văn Hiệp Và con trai   Doãn Quý.

**211     Đời 23-Doãn Quý vợ  Trương Thị Thường sinh con: Doãn Đăng Hưng.

 

**22        Đời 22-Doãn Tuấn:con trai thứ 2 cụ Doãn Côi, vợ Hoàng Thị Dung sinh 2 con trai : Doãn Tiến, Doãn Thắng, và 1 con gái  Doãn Thị Thu  chồng là Hoàng Văn Tuấn.

**23       Đời 22-Doãn Công con trai thứ 3 cụ Doãn Côi, vợ  Lê Thị Chức , sinh 2 con trai : Doãn Việt Anh, Doãn Quang.

**24        Đời 22-Doãn Trung con trai thứ 4 cụ Doãn Côi, vợ  Hoàng Thị Trang, sinh 2 con trai: Doãn Khánh, Doãn Nam.

 

*1323       Đời 19- Doãn Kinh  con thứ 3 cụ Doãn Bạc, mất ngày 25-2 âm lịch, chính thất  Lê Thị Dãnh mất ngày 10-10 âm lịch,   sinh 2 con trai:  Doãn Kệ, Doãn Thái, và con gái Doãn Thị Xuyên chồng là Lê Viết Sâng.

*13231      Đời 20-Doãn Kệ con trai trưởng  cụ Doãn Kinh, mất ngày 25-2 âm lịch, có 3 đời vợ: bà cả Lê Thị Vát, bà 2 Lê Thị Quy mất ngày 10-2 âm lịch, bà 3 Lê Thị Hoan, ông sinh 2 con trai: Doãn Lương, Doãn Mong . và con gái  Doãn Thị Nhiễu chồng là Lưu Bá Vinh

**2          Đời 21- Doãn Mong con trai thứ 2 cụ Doãn Kệ, có 2 vợ, bà  cả tên  là  The, sinh 1  con trai Doãn Mai. vợ 2 Phạm Thị Nga sinh 3 con trai : Doãn Long, Doãn An vợ là Văn Thị Duy, Doãn Giang.

**21        Đời 22-Doãn Mai: con trai trưởng cụ Doãn Mong, vợ Nguyễn Thị Phượng sinh 3 con gái: Doãn Thị Hà, Doãn Thị Trang, Doãn Thị Hiền.

**22        Đời 22-Doãn Long:con trai thứ 2 cụ Doãn Mong, vợ là Bùi Thị Hồng có 1 con trai  Doãn Hoàng.

 

*13232   Đời 20- Doãn Thái: con trai thứ 2 cụ Doãn Kinh vợ  Hoàng Thị Lý sinh 4 con trai: Doãn Sơn, Doãn Thanh, Doãn Minh, Doãn Quế (liệt sỹ cách mạng), và 3 con gái : Doãn Thị Sâm chồng là Lê Đức Sèo, Doãn Thị Nhung chồng là Lưu Văn Chân, Doãn Thị Xuân.

**1        Đời 21-Doãn Sơn: con trai trưởng cụ  Doãn Thái, vợ  Mai Thị Êm, sinh 3 con trai: Doãn Hải, Doãn Hà, Doãn Lâm và 2 con gái : Doãn Thị Hương chồng là Nguyễn Quốc Thành. Doãn Thị Tâm.

**11        Đời 22- Doãn Hải  con trưởng ông Doãn Sơn, vợ Phạm Thị Huê có 2 con: Doãn Hòa, Doãn Thị Thủy.

**12        Đời 22-Doãn Hà: con thứ 2 ông Doãn Sơn, vợ  Phạm Thị Giang có 2 con: Doãn Phương Anh, Doãn Tuấn.

**13          Đời 22- Doãn Lâm: con trai thứ 3 ông  Doãn Sơn, sinh  con gái : Doãn Thị Hồng.

 

**2       Đời 21- Doãn Thanh:  con trai thứ 2 cụ Doãn Thái, vợ  Lê Thị Chung, sinh 2 con trai: Doãn Thành, Doãn Thương.

**21       Đời 22- Doãn Thành vợ  Bùi Thị Hương, sinh con gái  Doãn Quỳnh Anh.

 

**3       Đời 21-Doãn Minh: con trai thứ 3 cụ Doãn Thái, vợ  Lê Thị Truyền, sinh 2 con: Doãn Thị Quý chồng là Nguyễn Tiến Hùng, Doãn Nam vợ là Lê Thị Hoa.

 

*133        Đời 18-Doãn Viện con thứ 3 cụ Doãn Thi, làm Lý trưởng làng Cổ Định, có 3 đời vợ và sinh 2 con : Doãn Thị Cay, Doãn Tới.

*1331        Đời 19- Doãn Tới  con trai cụ Doãn Viện, mất ngày 2-10 âm lịch,  chính thất Lê Thị Trinh mất ngày 2-10 âm lịch, sinh 2 con trai  Doãn Ới,  Doãn Bấc.

 

*13311      Đời 20-Doãn Ới con trai trưởng cụ Doãn Tới, mất ngày 6-5 âm lịch, nguyên chủ tịch xã Tân Ninh. Chính thất Lê Thị Thiện người cùng làng, sinh 3 con trai : Doãn Khải, Doãn Hùng, Doãn Dũng, và 5 con gái : Doãn Thị Liệu chồng Lê Ngọc Luận, Doãn Thị Ngọc chồng Lê Viết Thắng, Doãn Thị Quế chồng là Vọng ở Tĩnh Gia. Doãn Thị Huê chồng Lê Bật Liên,  Doãn Thị Hồng lấy chồng là Đinh Xuân Hùng.

 

**1           Đời 21- Doãn Khải con trai trưởng cụ Doãn Ới, mất ngày 9-5 âm lịch, vợ  Trịnh Thị Thiều sinh 2 con trai: Doãn Hải, Doãn Quân, và con gái Doãn Thị Quang chồng là Lê Bật Tâm.

**11        Đời 22- Doãn Hải :con trai trưởng ông Doãn Khải, vợ  Lê Thị Mai, sinh  con trai Doãn Đăng Hưng.

**12          Đời 22- Doãn Quân: con trai thứ 2 ông  Doãn Khải, vợ Lê Thị Tình có 2 con  Doãn Anh Tuấn, Doãn Thị Nhi.

 

**2          Đời 21- Doãn Hùng : con trai thứ 2 cụ Doãn Ới, vợ  Lê Thị Tuyết có 2 con gái : Doãn Thị Hà chồng là Thắng, Doãn Thị Hương chồng là Nam.

 

**3          Đời 21-Doãn Dũng  con trai thứ 3 cụ Doãn Ới, vợ  Hứa Thị Huê, sinh 2 con: Doãn Thị Nhung, Doãn Đức.

 

*13312        Đời 20- Doãn Bấc con thứ 2 cụ Doãn Tới, Vợ  Lê Thị Lương người cùng làng. sinh 5 con trai: Doãn Long , Doãn Thơm, Doãn Bầm, Doãn Bắc, Doãn Nam  và 2 con gái: Doãn Thị Gái chồng là Hứa Viết Chén, Doãn Thị Thương  chồng là Lê Bật Dũng.

**1       Đời 21- Doãn Long: con trai trưởng cụ Doãn Bấc, vLê Thị Thảo sinh 2 con: Doãn Thùy, Doãn Thị Tuyết.

**11         Đời 22- Doãn Thùy sinh con  Doãn Gia Nghĩa.

 

**2          Đời 21-Doãn Thơm: con trai thứ 2 cụ Doãn Bấc, vợ  Lê Thị Thường sinh 2 con gái: Doãn Thị Thoa, Doãn Thị Thủy.

**3         Đời 21-Doãn Bầm: con trai thứ 3 cụ Doãn Bấc, vLê Thị Mùi sinh 2 con: Doãn Bình, Doãn Thị Mai.

**4           Đời 21-Doãn Bắc: con trai thứ 4 cụ Doãn Bấc, vợ Hoàng Thị Thơm, có 3 con: Doãn Bộ lấy vợ là Triệu Thị Thảo, Doãn Thị Hương, Doãn Thị Oanh.

**5           Đời 21-Doãn Nam: con trai thứ 5 cụ Doãn Bấc, vợ Lê Thị Tảo sinh 2 con trai : Doãn Định, Doãn Công.

 

 

Từ Cổ Định di cư  đi các nơi :

 

-          Cụ Doãn Hoằng di đến Doãn Xá

-          Cụ Doãn Nỗ di đến Sơn Nam hạ ( chi Phương Chiểu)

-          Hai cụ Doãn Phi Doãn Bật di vào Nghệ An

-          Cụ…   di vào Quang Nam.

-          Một chi di về Quảng xương, Thanh hóa

-          Một chi di về Phúc Thọ Hà nội.

-          Một chi di đến …

 

 

 

PHẦN TƯ LIỆU : ( phần tư liệu của Cổ Định sẽ do Ban Soạn thảo biên tập chung trong phả)


    Comments (0)       Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server In       Lên trên

Viết bình luận của bạn:

Tên:
Email:
Tiêu đề:
Bình luận:
 





Template khác:
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả các chi Cự Phú, Đại Duy , Giai Lệ tỉnh Hwung Yên.
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi Lê Thanh, Mỹ Đức, Hà Nội
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi An Lãng
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả họ Doãn Phú Mỹ-Quốc Oai.
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi thôn Trung, thị trấn Ân Thi, Hưng Yên
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi Phúc Trạch
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi Chương Dương
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server GIa phả chi Doãn Trọng
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi Hoành Nha
Thiết kế website - website giá rẻ - hosting -server Gia phả chi ho Phạm Doãn ở Tong Bat Hà Nội

VIDEO CLIP
 
  • Khánh thành tu tạo nhà thờ Sơn Đồng ngày 23/12/2012
  • Lễ Giỗ và khánh thành lăng mộ Tổ (Clip 2)
  • Clip hóa bát hương tại lễ khánh thành Lăng mộ Tổ 18/3/Nhâm Thìn
  • Lễ Giỗ và Khánh thành lăng mộ Tổ 18-19/3/Nhâm Thìn
  • ALBUM ẢNH
    DANH SÁCH CÔNG ĐỨC CỘNG 2 ĐỢT XÂY NHÀ THỜ CỔ ĐỊNH
    BÁO CÁO CỦA TRƯỞNG BLL (1)
    ThaiHung_Tuduong
    Ý KIẾN NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đề xuất một phương án xây dựng nhà thờ mới
  • THư của Doãn Thị Dương Tuyên (Bố Trạch - Quảng Bình)
  • Thư của Doãn Thị Hương
  • THÔNG TIN TÌM VIỆC
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần hỗ trợ học tập
  • Thông tin các cháu họ Doãn cần tìm việc làm
  • HỖ TRỢ TN-SINH VIÊN
  • THƯ GIỚI THIỆU VIỆC LÀM CHO NGƯỜI HỌ DOÃN
  • Đại lý bếp đun trấu không khói
  • Thông tin có thể hỗ trợ học tập và tìm việc làm
  • QUỸ KHUYẾN HỌC
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2014
  • THONG BAO VE KHUYEN HOC
  • Danh sách phát thưởng khuyến học dịp giỗ 1/3 Quý Tỵ tại An Duyên
  • Danh sách XD Quỹ Khuyến học năm 2011, 2012 và 2013
  • DANH SÁCH KHEN THƯỞNG KHUYẾN HỌC 2012 (đợt 3)
  • CÁCH SỐNG
  • Bàn về sự ấu trĩ
  • Chiến lược và cạnh tranh (Michael Porter)
  • Những điều răn của cổ nhân
  • Học làm người
  • Thành kiến
  • VIỆC HỌC & PP HỌC
  • Học như thế nào?
  • Trao học bổng Amcham 2012
  • Giới thiệu về một số phương pháp TƯ DUY
  • Phương pháp học tập và luyện thi hiệu quả
  • NGŨ TRI ĐƯỜNG
  • SÁCH & TÀI LIỆU HỌC
  • YẾU LƯỢC SỬ CA
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Chương2: Sóng Cơ
  • Tài liệu ôn thi môn Vật lý 12 - Dao động điều hòa
  • Địa chỉ các website phục vụ việc học tập
  • HỘI NGHỊ 16-1-2010
  • Thư của ông Doãn Minh Tâm tại hội nghị 16/1/2010
  • Ảnh chụp tại hội nghị 16-1-2010
  • Phát biểu khai mạc Hội nghị
  • Phát biểu của đại điện Ban liên lạc dòng họ
  • Vài lời phân tích kết quả thi ĐH 2009 của con cháu họ Doãn
  • NGỤ NGÔN VÀ TRIẾT LÝ
  • Ngu công dời núi
  • Chim Hỉ Thước
  • Gia Cát Khổng Minh khuyên con
  • chữ NHẪN
  • Lời Phật dạy
  • CÂU LẠC BỘ THANH NIÊN
  • Thông báo về việc tạm hoãn hội nghị CLBTN họ Doãn
  • DIỄN ĐÀN MỚI CỦA THANH NIÊN HỌ DOÃN
  • Danh sách thành viên CLB (theo chi)
  • Tổ chức và Chương trình hoạt động
  • Danh sách thành viên CLB (theo Trường, tổ chức)
  • Thời tiết | Giá vàng | Giá ngoại tệ | Liên hệ | QUAY VỀ TRANG CHỦ

    Bản quyền thuộc Ban liên lạc Họ Doãn Việt Nam
    (Vui lòng ghi rõ nguồn tin nếu bạn sử dụng thông tin từ trang web này)